Hoạt động T1/2023

Các hoạt động chính Tháng 1/ 2023

    • Trong tháng 12/2022 và 1/2023, Cty Mầm Xanh tiếp tục xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đến các khách hàng chính ở Nhật. Bên cạnh nhiều mặt hàng truyền thống, một số sản phẩm mới cũng được xuất nhiều trong tháng, như: củ đậu (sắn), hành tím…
    • Tháng này cũng là tháng cuối năm âm lịch Nhâm Dần, và chuẩn bị cho kỳ nghỉ lễ tết âm lịch ở Việt Nam. Cty Mầm Xanh khá bận rộn với nhiều đơn hàng trong giai đoạn này. Hy vọng, Mầm Xanh sẽ có một năm mới Quý Mão nhiều thành công và thuận lợi.
    • Bên dưới là một vài hình ảnh liên hoan tất niên Cty Mầm Xanh và bạn hữu.

Viết cho năm 2022

Viết cho năm 2022

Năm 2022 là một năm với nhiều thay đổi trong công việc. Một năm bước ra khởi nghiệp với rất nhiều trải nghiệm, vui có buồn có. Có những lúc khó khăn đến mức mình nghĩ sẽ bỏ cuộc. Nhưng vượt qua bao sóng gió, con thuyền Mầm Xanh đã vượt qua cột mốc 1 năm an toàn và đang chuẩn bị cho những hành trình xa hơn trong năm tới.
Lúc đầu, các đối tác, khách hàng nhìn cty mình với góc nhìn là 1 công ty mới, nhỏ và khó phát triển được. Nhưng đến lúc này có thể nói là cty Mầm Xanh đã phát triển tạm ổn bởi cuộc sống này luôn có những kỳ tích và kỳ diệu. Mình thật may mắn đã tìm được những khách hàng rất tuyệt vời và luôn luôn chia sẻ để cùng đồng hành và phát triển.
Từ lúc ra làm riêng, mình lúc nào cũng biết ơn những điều đã học được khi làm việc tại Ngân hàng. Chẳng hạn như: những kỹ năng chăm sóc, lắng nghe khách hàng, và hiểu được một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi luôn biết lắng nghe phản hồi từ khách hàng và không ngừng hoàn thiện chính mình. Quá trình khởi nghiệp càng giúp mình hiểu thêm sâu sắc là cứ làm tốt và cố gắng hết mình, luôn đồng hành và chia sẻ với khách hàng, với nhà cung cấp thì sẽ ngày càng có nhiều khách hàng và nhà cung cấp tin tưởng và tìm đến mình.
Trong năm 2023, bên cạnh mảng xuất khẩu nông sản, công ty mình đang phát triển thêm về mảng dịch vụ du lịch, rất mong sẽ nhận được sự ủng hộ từ quý khách hàng. Cả nhà mình ai có nhu cầu du lịch Nhật trong 2023 thì liên hệ mình nhé 🙂
Một lần nữa mình xin cám ơn quý khách hàng đã luôn tin tưởng và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Cty Mầm Xanh (Greenbud) trong năm qua. Sự đồng hành của quý vị góp phần vào sự tồn tại và lớn mạnh của cty chúng tôi. Rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và cộng tác từ quý khách hàng, nhà cung cấp và các đối tác trong năm 2023 sắp tới. Chúc quý vị một năm mới nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc!
Trân trọng,
Nguyễn Thị Kim Thoa

Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nông nghiệp, phần lớn người dân sinh sống ở nông thôn và cuộc sống phụ thuộc vào nghề nông. Tuy nhiên, nông nghiệp lại là ngành có năng suất thấp nhất, đối diện với nhiều rủi ro nhất. Đến nay, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm lời giải cho bài toán phát triển bền vững, tránh điệp khúc “được mùa, mất giá, được giá, mất mùa”.

Trong thời gian qua, Cty TNHH XNK Mầm Xanh rất hân hạnh được đồng hành cùng người nông dân đưa những nông sản Việt Nam chất lượng cao đến các thị trường thế giới. Từ kinh nghiệm thu mua và xuất khẩu nông sản của mình, đội ngũ của Cty Mầm Xanh đã nhận ra một số vấn đề cần cải thiện trong hoạt động trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản, và xuất khẩu nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới. Dưới đây là tóm tắt 1 vài điểm yếu cần khắc phục để ngành nông sản Việt Nam có thể phát triển bền vững.

1/ Phương thức trồng trọt và canh tác lạc hậu: Tư duy trồng trọt theo thói quen, kinh nghiệm, khiến nhiều nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu và các loại phân bón hóa học. Điều này, chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ có tác hại đến độ màu mỡ của đất, chất lượng tăng trưởng của cây, và tăng khả năng trái cây thu hoạch sẽ bị vướng dư lượng các loại hóa chất độc hại, khiến không thể xuất khẩu đến các quốc gia phát triển, nơi có tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Vì vậy, người nông dân cần tự trang bị kiến thức, tìm kiếm các phương thức canh tác hữu cơ, thân thiện môi trường, giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng, thì mới hy vọng tăng năng suất, và tăng cơ hội đầu ra cho sản phẩm. 

2/ Thiếu khả năng dự báo và tư duy cộng tác dài hạn: Hầu hết các nông dân, hợp tác xã nông nghiệp và cả những DN tham gia trong chuỗi cung ứng nông sản ở Việt Nam đều chưa tận dụng được sức mạnh của CNTT-VN để hỗ trợ cho việc dự báo và lập kế hoạch dài hạn. Vì vậy, không thể đảm bảo độ ổn định của sản lượng và chất lượng các sản phẩm cung cấp trên thị trường. Điều này gây khó khăn cho tất cả các mắc xích trong chuỗi cung ứng. Vì mở rộng hay thu hẹp diện tích trồng trọt 1 loại cây trái nào đó sẽ có ảnh hưởng đến lượng cung cầu trên thị trường, nên cần phải dựa trên phân tích thấu đáo vào nhu cầu thị trường, năng lực cung cấp, điều kiện thời tiết… Trên thực tế, các hoạt động giữa nhà nông, hợp tác xã, DN xuất khẩu hiện vẫn rời rạc, thiếu sự cộng tác và định hướng dựa trên thông tin dự báo và tầm nhìn dài hạn. Chính phủ, các hiệp hội ngành nghề cần hỗ trợ xây dựng các CSDL dùng chung, thúc đẩy việc khai thác các nguồn thông tin công cộng như dự báo thời tiết, nhu cầu nông sản của thị trường thế giới theo thời gian… để có thể chuẩn bị nguồn lực và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.

3/ Thiếu khả năng đổi mới và sáng tạo: Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thị trường thương mại quốc tế, ảnh hưởng của CMCN 4.0, đòi hỏi nông nghiệp Việt Nam phải thích ứng bằng cách tăng cường năng lực đổi mới và sáng tạo. Cần phải dành nguồn lực để đầu tư cải tiến chất lượng giống cây trồng đạt năng suất cao hơn, cải thiện phương thức canh tác theo hướng thân thiện môi trường, xây dựng thương hiệu, đổi mới mẫu mã, bao bì sản phẩm… Đặc biệt, các viện nghiên cứu nông nghiệp, các hợp tác xã và DN thương mại cần phải chú trọng liên kết với nhau trong các dự án đổi mới sản phẩm, góp phần hình thành những sản phẩm mới, tạo nên thương hiệu mạnh của quốc gia. Chỉ có đầu tư đáng kể vào đổi mới sản phẩm, quy trình, thực hiện cải tiến liên tục mới có thể làm tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

4/ Thiếu liên kết giữa nhà máy chế biến, nhà XNK và công ty logistics: Để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan trong việc kiểm soát chất lượng, nhiệt độ, phương thức bảo quản, vận chuyển, thủ tục thông quan… để đảm bảo duy trì được chất lượng sản phẩm lâu dài. Bởi vấn đề đối với nông sản là loại sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, chất lượng giảm rất nhanh khi thay đổi nhiệt độ hoặc do vận chuyển quá lâu. Không những cộng tác trong từng đơn hàng riêng lẻ, mà cần hình thành những mối quan hệ chiến lược lâu dài để cùng chia sẻ lợi ích và giảm bớt rủi ro về giá, sản lượng và chất lượng của ngành hàng này.

5/ Thiếu sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ quan quản lý nhà nước: Mặc dù chính phủ Việt Nam có một vài động thái hỗ trợ sự phát triển của ngành nông sản, như: liên kết ba nhà, khuyến khích nông nghiệp 4.0, thúc đẩy xuất khẩu 1 vài mặt hàng nông sản… Tuy nhiên, các hoạt động trên vẫn còn rời rạc và mang tính phong trào mà chưa đi vào hỗ trợ thực chất cho sự phát triển ngành nông sản. Cụ thể hơn, ngành nông sản cần sự hỗ trợ thông tin của chính phủ về các hiệp định tự do thương mại với các nước, các quy định về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc, các thông tin thống kê, dự báo về tình hình xuất nhập khẩu từng loại mặt hàng, các cơ quan ngoại giao cần tích cực vận động để ngày càng nhiều các mặt hàng có thể được xuất khấu đến các nước phát triển, giảm các thủ tục hành chính, miễn giảm các loại thuế và lệ phí liên quan đến việc cấp phép, kiểm dịch, thông quan… Cần tận dụng tối đa nền tảng CNTT-VT, chính phủ điện tử để cung cấp thông tin kịp thời đến người dân về các quy định, chính sách, tình hình thương mại quốc tế có liên quan, để người dân, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc kết nối, tìm kiếm cơ hội và đối tác kinh doanh phù hợp.

Tóm lại, để nông sản Việt Nam có thể nâng cao giá trị, và vị thế trên thị trường thế giới, để ngành nông sản có thể phát triển bền vững, đòi hỏi các bên liên quan trong chuỗi cung ứng nông sản (bao gồm: người nông dân, hợp tác xã nông nghiệp, nhà máy chế biến, nhà XNK, DN logistics…) cần phải cộng tác và thay đổi những điểm tồn tại đã được nhận diện trên. Cụ thể là: 1/ người nông dân phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng hiện đại, sạch, an toàn, và ít sử dụng thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học; 2/ cần sử dụng sức mạnh CNTT-VT để nâng cao năng lực dự báo, và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thu hoạch, kinh doanh một cách linh hoạt; 3/ cần đầu tư đổi mới sản phẩm và quy trình để tăng năng suất và giá trị sản phẩm; 4/ cần xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược giữa các bên trong chuỗi cung ứng để gắn kết bền vững vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu; 5/ cơ quan quản lý nhà nước cần có nhiều chính sách cụ thể, thiết thực và hiệu quả để cải thiện chất lượng, giá trị và hình ảnh thương hiệu của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Hy vọng rằng, khi 5 vấn đề trên được nhận diện và giải quyết triệt để, sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho các bên trong chuỗi cung ứng ngành nông sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông sản Việt Nam nói riêng, và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung. 

Phạm Quốc Trung

Hoạt động T11/2022

Các hoạt động chính Tháng 11/ 2022

    • Trong tháng 11/2022, Cty Mầm Xanh tiếp tục xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đến các khách hàng chính ở Nhật. Bên cạnh nhiều mặt hàng truyền thống, một số sản phẩm phục vụ cho dịp năm mới 2023 và tết âm lịch cũng được đẩy mạnh, như: lá dong, lá chuối, dừa, mít, thanh long, xoài, bánh, kẹo, cà phê, sô cô la…
    • Ngoài ra, Green Bud cũng đang hướng tới xây dựng hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ và ổn định chất lượng các nguồn cung để đảm bảo yêu cầu ngày càng cao của khách hàng. Cam kết chất lượng và phát triển bền vững luôn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi. 

Hoạt động T10/2022

Các hoạt động chính Tháng 10/ 2022

    • Trong tháng 10/2022, Cty Mầm Xanh xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đến các khách hàng của chúng tôi ở Nhật. Một số sản phẩm mới bao gồm: lá chanh, lá dong, lá chuối, hành lá, hành tím, và nhiều loại rau quả cấp đông…
    • Ngoài ra, một số hải sản cũng đã được giao đến các khách hàng của chúng tôi. Green Bud đang cố gắng để chuẩn hóa các quy trình đảm bảo chất lượng để chuẩn bị cho mùa cao điểm nhiều đơn hàng vào các tháng cuối năm 2022.

Hoạt động T9/2022

Các hoạt động chính Tháng 9/ 2022

    • Trong tháng 9/2022, Cty Mầm Xanh xuất khẩu nhiều loại mặt hàng đến các khách hàng của chúng tôi ở Nhật. Một số sản phẩm đã xuất khẩu trong tháng gồm: dừa, xoài, thanh long, sả, gừng, riềng, sầu riêng tươi, sầu riêng cấp đông, mít cấp đông, nhãn cấp đông, lá chanh, lá dong, lá chuối… Đặc biệt, một số hải sản như: cá ba sa, cá trê, và ếch, đã được giao đến các khách hàng. Trong tháng này, Green Bud còn xuất khẩu một lượng nhỏ các loại rau cấp đông để thử nghiệm thị trường.
    • Ngoài ra, Cty Mầm Xanh cũng đánh dấu kỷ niệm 1 năm thành lập công ty (27/9) bằng nhiều hoạt động ý nghĩa, thiết thực, hướng tới xây dựng một tập thể mạnh, gắn kết, năng động trong kinh doanh, có trách nhiệm xã hội, và phát triển bền vững.  
  •  
    • Một số hình ảnh sản phẩm xuất khẩu trong tháng:

Cách mạng nông nghiệp 4.0

Cách mạng nông nghiệp 4.0 – Lối thoát cho nền nông nghiệp lạc hậu

 

Nông nghiệp 4.0 là gì?                             

nông nghiệp 4.0
nông nghiệp 4.0

Khái niệm nông nghiệp 4.0

Nếu ta có công nghiệp 4.0 đã có mặt từ lâu với những phát minh khoa học kĩ thuật hiện đại thì bây giờ song song với nó còn có sự có mặt của cách mạng nông nghiệp 4.0, theo khái niệm của Hiệp hội Máy Nông nghiệp Châu Âu (European Agricultural Machinery, 2017):

– Nông  nghiệp 1.0 xuất hiện ở đầu thế kỷ 20, vận hành với hệ thống tiêu tốn sức lao động, năng suất thấp;

– Nông nghiệp 2.0  đó là Cách mạng xanh, bắt đầu vào những năm 1950, mà điển hình là Ấn Độ sử dụng các giống lúa mì lùn cải tiến; giai đoạn mà canh tác kết hợp sử dụng hóa học hóa trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; cơ khí phục vụ nông nghiệp  phát triển, máy cày làm đất và máy móc phục vụ công nghệ sau thu hoạch, …

– Nông nghiệp 3.0 là bắt đầu khi định vị toàn cầu (GPS) được ứng dụng đầu tiên để định vị và định hướng. Thứ hai là điều khiển tự động và cảm biến (sensor) đối với nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng, từ những năm 1990, máy gặt đập liên hợp được gắn thêm màn hình hiển thị năng suất dựa vào định vị GPS.

– Nông nghiệp 4.0 là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên tại Đức. Đối với Việt Nam, áp dụng thành tựu nông nghiệp 4.0 (NN 4.0) là ứng dụng các thành tựu của công nghiệp 4.0 (Internet, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ chiếu sáng, công nghệ robot…) vào nông nghiệp sao cho giảm thiểu công lao động, giảm thất thoát do thiên tai, sâu bệnh, an toàn môi trường, tiết kiệm chi phí trong từng khâu hay toàn bộ quy trình sản xuất – chế biến – tiêu thụ.

Thành phần của nông nghiệp 4.0

Theo tổng kết ở Mỹ đến nay các thành phần chủ yếu của nông nghiệp 4.0 thường được hiểu như sau:

    • Cảm biến kết nối vạn vật (IoT Sensors): Từ dinh dưỡng đất kết nối với máy chủ và các máy kết nối khác là thành phần chủ yếu của nông nghiệp hiện đại. 
    • Công nghệ đèn LED đang trở thành tiến bộ không thể thiếu để canh tác trong nhà vì sự đáp ứng sinh trưởng và năng suất tối ưu.
    • Người máy (Robot) đang thay việc cho nông dân thường làm. Người máy cũng có cả các bộ phân tích nhờ các phần mềm trợ giúp phân tích và đưa ra xu hướng trong các trang trại. 
    • Tế bào quang điện (Solar cells). Phần lớn các thiết bị trong trang trại được cấp điện mặt trời và các bộ pin điện mặt trời trở nên quan trọng.
    • Thiết bị bay không người lái (Drones) và các vệ tinh (satellites) được sử dụng để thu thập dữ liệu của các trang trại.
    • Canh tác trong nhà/hệ thống trồng cây – nuôi cá tích hợp/Thủy canh (khí canh): Hiện nhiều giải pháp đã được hoàn thiện.
    • Công nghệ tài chính phục vụ trang trại (Farm Fintech): Fintech nghĩa là kinh doanh dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ. Fintech được sử dụng chung cho tất cả các công ty tài chính sử dụng internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư. Farm Fintech bao gồm dịch vụ cho vay, thanh toán, bảo hiểm.

Nội hàm của nông nghiệp 4.0

nông nghiệp 4.0
nội hàm nông nghiệp 4.0

 Nông nghiệp 4.0 bao hàm nghĩa rộng của cả trồng trọt, chăn nuôi (có thể hiểu rộng hơn sang cả thủy sản và lâm nghiệp) về nghiên cứu, chuyển giao và sản xuất. Nông  nghiệp hiện đại quan tâm đến độ bền vững và các giải pháp an toàn.

Canh tác (Farming) là thực hiện những kỹ thuật như làm đất, gieo cấy, tỉa cành, luân canh, chăm sóc, thu hoạch, với mục tiêu đạt năng suất cao hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn, dựa vào tiến bộ công nghệ kỹ thuật số. 

Thuật ngữ Canh tác 4.0 (Farming 4.0) xuất hiện vào những năm 2010. Đó là các canh tác năng động và hiệu quả. Theo khái niệm của Mạng lưới Chuyên đề Canh tác Thông minh Châu Âu, canh tác thông minh là ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại (ICT) vào nông nghiệp (Cách mạng Xanh lần thứ ba).

Cuộc cách mạng này phối hợp ICT như các thiết bị chính xác, kết nối vạn vật (IoT), cảm biến, định vị toàn cầu, quản lý dữ liệu lớn (Big data), thiết bị bay không người lái (Drone), người máy (Robot)…; nhằm tạo điều kiện cho nông dân tăng thêm giá trị dưới dạng đưa ra được những quyết định khai thác, quản lý hiệu quả hơn. Đó là:

    • Hệ thống thông tin quản lý: đáp ứng nhu cầu thu thập, xử lý, lưu giữ và cung cấp dữ liệu cần thiết để thực hiện những chức năng của trang trại.
    • Nông nghiệp chính xác: thông qua các hệ thống có thể quản lý độ biến động theo không gian và thời gian để cải thiện hiệu quả kinh tế đầu tư và giảm thiểu tác hại của môi trường. Nông nghiệp chính xác còn được hiểu và nền nông nghiệp có thể nuôi sống cả dân số thế giới dự báo 10 tỷ người vào năm 2050.                                                     
    • Nông nghiệp chính xác, tức ngành nông nghiệp sử dụng cảm biến và các thuật toán thông minh để phân phối nước, phân bón và thuốc trừ sâu, đáp ứng cho cây khi cây thực sự cần, nhằm đảm bảo tính sinh lời, tính bền vững và bảo vệ môi trường. Nông dân có thể quyết định tưới tiêu khi thực sự cần thiết và tránh việc lạm dụng thuốc trừ sâu, họ sẽ có thể tiết kiệm được chi phí và nâng cao sản lượng.

(Nguồn: tham khảo từ https://agri.vn/nong-nghiep-4-0/)

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước

Ngày 22/7, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) sẽ phối hợp với tỉnh Đắk Lắk tổ chức Phiên tư vấn xuất khẩu sản phẩm sầu riêng Việt Nam theo hình thức trực tiếp (tại Đăk Lăk) và trực tuyến.

 

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước
 

Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện tích trồng sầu riêng của Việt Nam gia tăng nhanh chóng. Trước kia sầu riêng mới chỉ được trồng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và một số nơi tại Đông Nam Bộ. Còn ở hiện tại, loại cây này đang có sự gia tăng diện tích nhanh tại Tây Nguyên.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2021 sản lượng sầu riêng Việt Nam ước đạt 642.600 tấn, tăng 15% so với năm 2020. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sầu riêng dưới dạng múi đã tách vỏ và được cấp đông.

Trung Quốc là thị trường tiêu thụ sầu riêng tươi nhiều nhất của Việt Nam nhưng chủ yếu vẫn xuất khẩu tiểu ngạch. Kể từ ngày 11/7/2022, sầu riêng của Việt Nam được xuất chính ngạch qua tất cả các cửa khẩu của Trung Quốc.

Đến nay, sầu riêng Việt Nam đang ngày càng thể hiện vị trí thống lĩnh trên thị trường lớn nhất châu Đại Dương – Australia với hàng loạt thương hiệu đặc trưng riêng như ASEAN Produce, Vin Eni, Basel, Ưu Đàm, No1…

Theo Cục Xúc tiến thương mại, khảo sát tại các siêu thị và cửa hàng thực phẩm tại thành phố Sydney, bang New South Wales, Australia đều thấy sầu riêng Ri6 Việt Nam được bày bán tại các khu vực nổi bật nhất. Hiện nay, sầu riêng Việt Nam đã trở thành đối thủ cạnh tranh lớn nhất trên thị trường Australia, tạo lập được nhiều thương hiệu đặc trưng, có sức lan tỏa cao, khẳng định là loại “quả vua” trong các dòng sầu riêng bày bán ở thị trường này.

Tại Australia, sầu riêng đông lạnh cả quả, đông lạnh nguyên múi hoặc múi tách hạt đang là mặt hàng được người tiêu dùng ưa chuộng. Tiềm năng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang Australia rất lớn. Người gốc Á tại Australia thưởng thức sầu riêng đông lạnh quanh năm. Với các đối tượng cư dân khác cũng bắt đầu trải nghiệm sầu riêng do các chiến lược quảng bá thu hút của các quốc gia xuất khẩu sầu riêng.

Theo dự báo của các chuyên gia, quy mô thị trường trái sầu riêng toàn cầu sẽ đạt 28,6 tỷ USD vào năm 2025 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,2% trong giai đoạn năm 2019 – 2025. Sự tăng trưởng của thị trường trái cây sầu riêng được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng tăng về ẩm thực, cùng với sự mở rộng của ngành du lịch.

Hoạt động T8/2022

Các hoạt động chính Tháng 8/ 2022

    • Bên cạnh triển khai ERP-CRM, công ty Mầm Xanh đã và đang áp dụng quản lý quy trình kinh doanh để chuẩn hóa quy trình vận hành và đảm bảo chất lượng nhằm mang lại dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. 
    • Trong tháng 8/2022, Cty Mầm Xanh tiếp tục xuất khẩu nhiều mặt hàng đến các khách hàng bằng cả 2 đường hàng không và đường biển. Một số sản phẩm đã xuất khẩu trong tháng gồm: dừa, xoài, thanh long, sả, gừng, riềng, sầu riêng tươi, sầu riêng cấp đông, mít cấp đông, nhãn cấp đông, và lá chanh… Đặc biệt, trong tháng này, Green Bud còn nhận được 1 đơn hàng mới về cá và hải sản.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN 6 THÁNG NĂM 2022

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN 6 THÁNG NĂM 2022

 

1. Tình hình chung

Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 6 năm 2022 ước đạt 5,18 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2022 đạt 27,88 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,37 tỷ USD, tăng 8,8%; giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 40,8%; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 3%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất ước đạt 1,42 tỷ USD, tăng 64,8%; giá trị xuất khẩu muối ước đạt 2,7 triệu USD, tăng 78,8%.

 

Ước tổng  giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á đạt 11,72 tỷ USD, tăng 14,5%; châu Mỹ đạt 8,29 tỷ USD, tăng 9,5%; Châu Âu đạt 3,38 tỷ, tăng 25,5%; châu Đại Dương đạt 477 triệu USD, tăng 28,8%; châu Phi đạt 426 triệu USD, giảm 7,8%. Thị phần của các khu vực Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Đại Dương và Châu Phi trong tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2022 lần lượt là: 42%; 29,7%; 12,1%; 1,7% và 1,5%.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng 27,3%, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2021; Trung Quốc chiếm 17,8% (+5,9%) và Nhật bản chiếm 7,1% (+18,5%).

 

2. Xuất khẩu một số mặt hàng chính:

– Cà phê: Xuất khẩu cà phê tháng 6 năm 2022 ước đạt  145 nghìn tấn với giá trị đạt 335 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2022 đạt 1,03 triệu tấn và 2,32 tỷ USD, tăng 21,7% về khối lượng và tăng 49,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Cao su: Xuất khẩu cao su tháng 6 năm 2022 ước đạt  180 nghìn tấn với giá trị đạt 297 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2022 đạt 779 nghìn tấn và 1,35 tỷ USD, tăng 9,2% về khối lượng và tăng 12,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Chè: Xuất khẩu chè tháng 6 năm 2022 ước đạt  13 nghìn tấn với giá trị đạt 24 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2022 đạt 54 nghìn tấn và 94 triệu USD, giảm 6,4% về khối lượng và giảm 1,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 750 nghìn tấn với giá trị đạt 370 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2022 đạt 3,52 triệu tấn và 1,72 tỷ USD, tăng 16,2% về khối lượng và tăng 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Rau quả: Giá trị xuất khẩu rau quả tháng 6 năm 2022 ước đạt 250 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2022 đạt 1,68 tỷ USD, giảm 17,2 so với cùng kỳ năm 2021.

– Hạt điều: Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 50 nghìn tấn với giá trị 307 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 6 tháng đầu năm 2022 đạt 253 nghìn tấn và 1,52 tỷ USD, giảm 7,8% về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Hạt tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 25 nghìn tấn, với giá trị đạt 106 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 6 tháng đầu năm 2022 đạt 125 nghìn tấn và 566 triệu USD, giảm 19,1% về khối lượng nhưng tăng 14% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 6 năm 2022 ước đạt 350 nghìn tấn với giá trị đạt 152 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1,8 triệu tấn và 783 triệu USD, tăng 13,2% về khối lượng và tăng 28% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2022 ước đạt 34,8 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 176 triệu USD, giảm 15,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 56,4 triệu USD, giảm 1,5%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 45,5 triệu USD, giảm 13,5%.

– Thủy sản: Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 6 năm 2022 ước đạt 1,1 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 đạt 5,81 tỷ USD, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2021. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật bản là 3 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam.

– Gỗ và sản phẩm gỗ: Ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 6 năm 2022 đạt 1,5 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2022 đạt 8,49 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2021.

Trương Thị Quỳnh Vân (vioit.org.vn)