Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nông nghiệp, phần lớn người dân sinh sống ở nông thôn và cuộc sống phụ thuộc vào nghề nông. Tuy nhiên, nông nghiệp lại là ngành có năng suất thấp nhất, đối diện với nhiều rủi ro nhất. Đến nay, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm lời giải cho bài toán phát triển bền vững, tránh điệp khúc “được mùa, mất giá, được giá, mất mùa”.

Trong thời gian qua, Cty TNHH XNK Mầm Xanh rất hân hạnh được đồng hành cùng người nông dân đưa những nông sản Việt Nam chất lượng cao đến các thị trường thế giới. Từ kinh nghiệm thu mua và xuất khẩu nông sản của mình, đội ngũ của Cty Mầm Xanh đã nhận ra một số vấn đề cần cải thiện trong hoạt động trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản, và xuất khẩu nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới. Dưới đây là tóm tắt 1 vài điểm yếu cần khắc phục để ngành nông sản Việt Nam có thể phát triển bền vững.

1/ Phương thức trồng trọt và canh tác lạc hậu: Tư duy trồng trọt theo thói quen, kinh nghiệm, khiến nhiều nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu và các loại phân bón hóa học. Điều này, chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ có tác hại đến độ màu mỡ của đất, chất lượng tăng trưởng của cây, và tăng khả năng trái cây thu hoạch sẽ bị vướng dư lượng các loại hóa chất độc hại, khiến không thể xuất khẩu đến các quốc gia phát triển, nơi có tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Vì vậy, người nông dân cần tự trang bị kiến thức, tìm kiếm các phương thức canh tác hữu cơ, thân thiện môi trường, giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng, thì mới hy vọng tăng năng suất, và tăng cơ hội đầu ra cho sản phẩm. 

2/ Thiếu khả năng dự báo và tư duy cộng tác dài hạn: Hầu hết các nông dân, hợp tác xã nông nghiệp và cả những DN tham gia trong chuỗi cung ứng nông sản ở Việt Nam đều chưa tận dụng được sức mạnh của CNTT-VN để hỗ trợ cho việc dự báo và lập kế hoạch dài hạn. Vì vậy, không thể đảm bảo độ ổn định của sản lượng và chất lượng các sản phẩm cung cấp trên thị trường. Điều này gây khó khăn cho tất cả các mắc xích trong chuỗi cung ứng. Vì mở rộng hay thu hẹp diện tích trồng trọt 1 loại cây trái nào đó sẽ có ảnh hưởng đến lượng cung cầu trên thị trường, nên cần phải dựa trên phân tích thấu đáo vào nhu cầu thị trường, năng lực cung cấp, điều kiện thời tiết… Trên thực tế, các hoạt động giữa nhà nông, hợp tác xã, DN xuất khẩu hiện vẫn rời rạc, thiếu sự cộng tác và định hướng dựa trên thông tin dự báo và tầm nhìn dài hạn. Chính phủ, các hiệp hội ngành nghề cần hỗ trợ xây dựng các CSDL dùng chung, thúc đẩy việc khai thác các nguồn thông tin công cộng như dự báo thời tiết, nhu cầu nông sản của thị trường thế giới theo thời gian… để có thể chuẩn bị nguồn lực và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.

3/ Thiếu khả năng đổi mới và sáng tạo: Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thị trường thương mại quốc tế, ảnh hưởng của CMCN 4.0, đòi hỏi nông nghiệp Việt Nam phải thích ứng bằng cách tăng cường năng lực đổi mới và sáng tạo. Cần phải dành nguồn lực để đầu tư cải tiến chất lượng giống cây trồng đạt năng suất cao hơn, cải thiện phương thức canh tác theo hướng thân thiện môi trường, xây dựng thương hiệu, đổi mới mẫu mã, bao bì sản phẩm… Đặc biệt, các viện nghiên cứu nông nghiệp, các hợp tác xã và DN thương mại cần phải chú trọng liên kết với nhau trong các dự án đổi mới sản phẩm, góp phần hình thành những sản phẩm mới, tạo nên thương hiệu mạnh của quốc gia. Chỉ có đầu tư đáng kể vào đổi mới sản phẩm, quy trình, thực hiện cải tiến liên tục mới có thể làm tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

4/ Thiếu liên kết giữa nhà máy chế biến, nhà XNK và công ty logistics: Để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan trong việc kiểm soát chất lượng, nhiệt độ, phương thức bảo quản, vận chuyển, thủ tục thông quan… để đảm bảo duy trì được chất lượng sản phẩm lâu dài. Bởi vấn đề đối với nông sản là loại sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, chất lượng giảm rất nhanh khi thay đổi nhiệt độ hoặc do vận chuyển quá lâu. Không những cộng tác trong từng đơn hàng riêng lẻ, mà cần hình thành những mối quan hệ chiến lược lâu dài để cùng chia sẻ lợi ích và giảm bớt rủi ro về giá, sản lượng và chất lượng của ngành hàng này.

5/ Thiếu sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ quan quản lý nhà nước: Mặc dù chính phủ Việt Nam có một vài động thái hỗ trợ sự phát triển của ngành nông sản, như: liên kết ba nhà, khuyến khích nông nghiệp 4.0, thúc đẩy xuất khẩu 1 vài mặt hàng nông sản… Tuy nhiên, các hoạt động trên vẫn còn rời rạc và mang tính phong trào mà chưa đi vào hỗ trợ thực chất cho sự phát triển ngành nông sản. Cụ thể hơn, ngành nông sản cần sự hỗ trợ thông tin của chính phủ về các hiệp định tự do thương mại với các nước, các quy định về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc, các thông tin thống kê, dự báo về tình hình xuất nhập khẩu từng loại mặt hàng, các cơ quan ngoại giao cần tích cực vận động để ngày càng nhiều các mặt hàng có thể được xuất khấu đến các nước phát triển, giảm các thủ tục hành chính, miễn giảm các loại thuế và lệ phí liên quan đến việc cấp phép, kiểm dịch, thông quan… Cần tận dụng tối đa nền tảng CNTT-VT, chính phủ điện tử để cung cấp thông tin kịp thời đến người dân về các quy định, chính sách, tình hình thương mại quốc tế có liên quan, để người dân, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc kết nối, tìm kiếm cơ hội và đối tác kinh doanh phù hợp.

Tóm lại, để nông sản Việt Nam có thể nâng cao giá trị, và vị thế trên thị trường thế giới, để ngành nông sản có thể phát triển bền vững, đòi hỏi các bên liên quan trong chuỗi cung ứng nông sản (bao gồm: người nông dân, hợp tác xã nông nghiệp, nhà máy chế biến, nhà XNK, DN logistics…) cần phải cộng tác và thay đổi những điểm tồn tại đã được nhận diện trên. Cụ thể là: 1/ người nông dân phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng hiện đại, sạch, an toàn, và ít sử dụng thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học; 2/ cần sử dụng sức mạnh CNTT-VT để nâng cao năng lực dự báo, và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thu hoạch, kinh doanh một cách linh hoạt; 3/ cần đầu tư đổi mới sản phẩm và quy trình để tăng năng suất và giá trị sản phẩm; 4/ cần xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược giữa các bên trong chuỗi cung ứng để gắn kết bền vững vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu; 5/ cơ quan quản lý nhà nước cần có nhiều chính sách cụ thể, thiết thực và hiệu quả để cải thiện chất lượng, giá trị và hình ảnh thương hiệu của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Hy vọng rằng, khi 5 vấn đề trên được nhận diện và giải quyết triệt để, sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho các bên trong chuỗi cung ứng ngành nông sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông sản Việt Nam nói riêng, và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung. 

Phạm Quốc Trung

Tương lai của kinh tế Việt Nam là Công nghệ thông tin và Nông nghiệp

Tương lai của kinh tế Việt Nam là Công nghệ thông tin và Nông nghiệp

“Bây giờ có nhiều hướng phát triển. Hầu hết là kế hoạch, chiến lược hoặc đang trong quá trình thử nghiệm. Nhưng tôi đã nhắc lại nhiều lần: Chỉ có 2 ngành mới đích thực là tương lai của kinh tế Việt Nam: IT (Công nghệ thông tin) và nông nghiệp”, Tiến sĩ Alan Phan phát biểu.

Dồi dào nguồn tài nguyên

Tại sao IT lại là tương lai của kinh tế Việt Nam và lại được đặt lên hàng đầu? Thứ nhất dân số Việt Nam là dân số trẻ. Ngành IT rất cần chất xám về sự sáng tạo, năng động; điều đó cần có những đầu óc trẻ. Tôi nghĩ ở Việt Nam, đó là một tài nguyên rất dồi dào.

Câu chuyện mới đây thôi, tôi lên trang Amazon mua mấy món đồ cần. Một việc rất bình thường khi ở Hoa Kỳ, nhưng ở Việt Nam thì không sao thực hiện được. Bởi những trang mạng tại Việt Nam khi check vào để thực hiện giao dịch mua hàng thì máy chủ ở Mỹ chặn hết.

Tôi hỏi anh bạn là một chuyên gia hàng đầu về IT ở Mỹ: Tại sao lại có hiện tượng đó? Bạn tôi giải thích: Ngày xưa khi internet mới bắt đầu, những tay hacker giỏi nhất là bên Đông Âu, nhưng bây giờ giỏi nhất là hacker ở Việt Nam và Trung Quốc. Thế nên, cứ thấy các địa chỉ mạng xuất phát từ Việt Nam đi là thế giới người ta đề phòng. Tức là trí thông minh của người mình rất tuyệt vời, có điều trí thông minh ấy (ở đây đang nói trong lĩnh vực IT) phần lớn lại chưa được định hướng.

Đó là một cái đáng buồn. Nhưng mặt khác nó chứng minh là người mình có đủ kỹ năng và trí tuệ để cạnh tranh với thế giới về IT, nếu chúng ta có định hướng cho lớp trẻ sử dụng trí tuệ của mình. Thành ra tôi nghĩ đó là một hướng đi tốt cho tương lai của kinh tế đất nước. Thêm nữa, IT đâu cần đường sắt cao tốc, đâu cần nhà máy điện nguyên tử, mà chỉ cần một đường truyền thật là tốt là có thể kết nối với cả thế giới.

Quan trọng là biết nắm bắt cơ hội

Cái lợi thế thứ hai tôi cũng cho là tương lai của kinh tế đất nước, là nông nghiệp. Việt Nam mình có may mắn là khí hậu rất ôn hòa, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lại có thêm vùng biển bao la để khai thác ngư nghiệp. Có thể nói đây là mặt mạnh của Việt Nam ngay cả so với Trung Quốc. Mình muốn làm về ôtô để cạnh tranh với Trung Quốc thì nên quên đi, ngay cả với Thái Lan mình cũng không đủ sức cạnh tranh.

Công nghiệp đóng tàu thì chúng ta đều biết nó gây hậu quả với môi trường như thế nào rồi, những nước phát triển không ai còn làm nữa nên mới mang sang ta, vì thế nên dừng càng sớm càng tốt. Tất cả những cái đó không phải là tương lai đất nước, dù vẫn có những trường hợp đặc biệt có sự đột phá. Phần lớn người dân Việt Nam vẫn là những người sống về nghề nông, nếu cho họ một môi trường để tự phát triển, đem tới những công nghệ mới nhất từ Israel, từ Hoa Kỳ, từ châu Âu … thì sức đột phá nông nghiệp Việt Nam có thể nói sẽ rất cao.

Tôi lấy ví dụ cà phê. Chúng ta trồng cà phê 100 năm nay sản lượng không tăng, chất lượng không cải thiện. Chúng ta ở trong nhóm những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, nhưng thương hiệu hoàn toàn không có, chất lượng không được đánh giá cao, chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô để người ta chế biến mà thôi. Dù “ông chủ” cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ cũng là bạn tôi, lúc nào cũng ca tụng thương hiệu của mình, nhưng thực tình trên thế giới không ai biết đến. Câu chuyện xuất khẩu gạo cũng tương tự.

Vậy nên mới nói cần phải có sự đột phá. Chẳng hạn thay vì trồng điều chúng ta có thể trồng cây vani giá trị kinh tế hơn rất nhiều, với thời giá bây giờ trên thế giới 1kg khoảng hơn 20.000USD. Ngay cả việc nuôi cá xuất khẩu, tôi có một anh bạn đang chuyển hướng hoạt động mạnh trong việc nuôi cá tầm để lấy trứng bán mấy ngàn USD/kg thay vì đi bán cá tra như trước.

Tất cả cơ hội nằm ở đó, nhưng phải biết nắm bắt. Muốn nắm bắt được thì phải có chất xám, có tìm tòi suy nghĩ; mà quan trọng nhất là phải dám đột phá mới dám tận dụng các chất xám được cung cấp hay tự tìm tòi học hỏi được.

– Tiến sĩ Alan Phan –

🎯Trích từ sách Góc nhìn Alan – Dành tặng doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu

Sáng tạo cách diệt sâu bệnh an toàn

Sáng tạo cách diệt sâu bệnh an toàn

Nhiều nông dân tỉnh Đồng Nai đã bỏ thói quen sử dụng thuốc BVTV, họ tự sáng tạo ra những cách diệt sâu bệnh cho vườn cây mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Nuôi ‘dũng sĩ’ kiến vàng

Dẫn chúng tôi tham quan vườn cây trái, anh Nguyễn Văn Tuấn (ấp Hưng Nghĩa, xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất, Đồng Nai) hào hứng khoe: “Khoảng 2 năm nay vườn cây nhà tôi đã không phải dùng một ký phân hóa học nào và cũng chẳng phải xịt thuốc trừ sâu. Hiện, tôi chỉ sử dụng chế phẩm sinh học IMO và nuôi kiến vàng trong vườn nhưng các loại sâu bệnh và côn trùng gây hại đều bị tiêu diệt hết, đồng thời vườn cây cũng dần cân bằng lại hệ sinh thái nên rất ít sâu bệnh”.

Theo anh Tuấn, trước kia khi vườn của gia đình anh trung bình 7 ngày phải xịt thuốc một lần, có khi phun xịt trễ là cây trái sẽ bị sâu vẽ bùa tàn phá, chích hút khiến cho khô, quăn lá không phát triển được. Thậm chí, cây cứ ra đọt non đến đâu bị chúng cắn trụi hết đến đó khiến cả vườn cây như sắp biến thành… vườn củi khô. Do vậy, anh Tuấn đã tự tìm cách phòng trừ bằng việc nuôi kiến vàng và phương pháp hữu cơ sinh học.

Từ năm 2018, anh Tuấn bắt đầu làm chế phẩm IMO, anh tận dụng tất cả các nguồn thức ăn dư thừa, xác động vật, nguyên liệu tự nhiên có sẵn trong vườn và ở địa phương để tạo thành chế phẩm IMO làm thức ăn cho cây, giúp vườn cây nhà mình tươi tốt, khỏe mạnh hơn. Sau đó, anh dùng chế phẩm vi sinh này tưới bón chăm sóc cho vườn cây, khoảng 6 tháng sau toàn bộ những gốc bưởi và những cây ăn trái khác trong vườn cây nhà anh bắt đầu có dấu hiệu hồi sinh.

Do được phục hồi bệnh, dinh dưỡng tốt khiến cây không còn hiện tượng bị thối rễ, các tuyến trùng, vi khuẩn có hại đều bị tiêu diệt và cây bắt đầu ra bông đều. “Nếu mình lạm dụng phân thuốc hóa học sâu bệnh sẽ bị nhờn thuốc, càng phun xịt cây càng bị nhiễm độc, ảnh hưởng cả sức khỏe con người. Do vậy, tôi vừa kết hợp giữa chế phẩm IMO vừa nuôi kiến vàng diệt trừ sâu, chỉ sau 2 năm toàn bộ vườn cây của gia đình đã sạch bệnh. Chi phí sản xuất cũng giảm khoảng 2/3 và hiệu quả kinh tế tăng đáng kể”.

Tương tự, nhờ nuôi kiến vàng diệt sâu bệnh trong vườn ca cao đã giúp ông Đoàn Văn Le (Mười Le), ấp Lộc Hòa, xã Tây Hòa, huyện Trảng Bom đem lại kết quả tốt. Lúc đầu ông Le mua 1,2ha để đầu tư trồng cam, quýt, nhưng khi được dự tham gia lớp tập huấn trồng và phát triển cây ca cao ở địa phương, ông đã đầu tư trồng thêm 3 ha ca cao xen chôm chôm, sầu riêng và áp dụng phương pháp thuần hóa, nuôi dưỡng đàn kiến vàng để bảo vệ vườn cây không phải phun thuốc BVTV.

“Tôi đã học được kỹ thuật và phương pháp nuôi kiến vàng từ các chuyên gia của Trường Đại học Nông Lâm hướng dẫn không ngờ đã thành công hơn mong đợi. Cũng nhờ đàn “dũng sĩ diệt sâu” này mà vườn cây nhà tôi không hề bị bệnh gì, cho năng suất cao, mỗi năm tôi tiết kiệm được cả chục triệu đồng tiền thuốc trừ sâu/ha”, ông Le chia sẻ.

Tự làm phân, thuốc an toàn

Những năm gần đây, nhiều nông dân tỉnh Đồng Nai đã ứng dụng công nghệ sinh học sản xuất nông nghiệp sạch theo hướng hữu cơ, tận dụng nguồn rác thải sinh hoạt, chăn nuôi để làm phân bón, thuốc trừ sâu sinh học không độc hại với giá rẻ.

Trước yêu cầu thực tế của thị trường nội địa và xuất khẩu về nông sản an toàn, nông dân ngày càng quan tâm đến việc ứng dụng các phương pháp tự ủ phân bón hữu cơ cũng như phòng trừ sâu bệnh bằng các phương pháp tự nhiên như mô hình ruộng lúa bờ hoa, trồng hoa cỏ trong vườn cây, nuôi kiến vàng, tự làm thuốc BVTV sinh học để trừ sâu bệnh.

Tiêu biểu ở xã Hưng Lộc có ông Bùi Văn Hùng đã tự nghiên cứu ra cách chăm sóc vườn bưởi hiệu quả an toàn. Ông Hùng tâm sự: “Tôi thường tìm mua vỏ con hàu về để nung và tán ra thành bột rồi đem pha với nước tưới lên mặt vườn sẽ giúp cân bằng độ pH của đất; đồng thời bột vỏ hàu cũng giúp tăng độ tơi xốp của đất, cải thiện sự hấp thu nitrat rất hữu ích”. Theo ông Hùng, vỏ hàu còn là nguồn tài nguyên giàu khoáng chất quan trọng cho vật nuôi, cây trồng và xử lý môi trường.

Ông Đoàn Ngọc Thạnh (ấp Tín Nghĩa, xã Xuân Thiện, huyện Thống Nhất), nông dân trồng bưởi sạch tại từ hơn 20 năm, áp dụng thành công phương pháp diệt côn trùng, sâu rầy bằng đèn và treo bảng màu trong vườn cây. Với phương thức này, ông Thạnh không phải dùng thuốc, hóa chất để xử lý vườn cây vừa tốn kém lại ảnh hưởng đến sức khỏe bản thân. Đồng thời, từ sản phẩm trái cho chất lượng ngon, an toàn nên ông luôn bán được giá cao.

Anh Nguyễn Thanh Phước, nông dân sản xuất giỏi cấp quốc gia (xã Hưng Lộc, huyện Thống Nhất) cho biết, từ năm 1994 ở địa phương anh đã triển khai chương trình IPM trên lúa, không ai phải phun thuốc BVTV vừa trồng cây khỏe lại bảo tồn được thiên địch có lợi.

“Hiện nay bà con chúng tôi đang hướng đến sản xuất hữu cơ trên các loại cây trồng. Vườn mít siêu sớm của gia đình tôi cũng đang áp dụng sản xuất theo quy trình hữu cơ, hạn chế tối đa việc bón phân hóa học và phun thuốc. Thậm chí còn nuôi cỏ dưới gốc cây nhằm tạo thảm thực vật giữ độ ẩm và cân bằng sinh thái vườn cây”, anh Phước chia sẻ.

Theo anh Phước, việc sản xuất theo hướng hữu cơ hiện không còn là câu chuyện lẻ tẻ của một vài nông dân nữa mà đã trở thành xu hướng phát triển được nhiều nông dân áp dụng và các địa phương khuyến khích nhân rộng.

Với mục tiêu chọn phát triển nông nghiệp sạch theo hướng hữu cơ làm mũi nhọn đột phá, huyện Vĩnh Cửu vừa triển khai Đề án về minh bạch sản phẩm nông nghiệp hữu và không ngừng nhân rộng mô hình từ sản xuất cây có múi đến rau quả, trồng hoa lan…

Ông Phạm Minh Phước, Chủ tịch UBND huyện Vĩnh Cửu cho biết: “Trong giai đoạn 2020-2021, huyện phấn đấu có 50% nông dân triển khai phương pháp sử dụng men vi sinh trong sản xuất. Địa phương sẽ gắn Đề án về minh bạch sản phẩm nông nghiệp hữu cơ với phát triển du lịch vườn, du lịch sinh thái nhằm quảng bá, mở rộng thị trường cho cả nông sản tươi và chế biến”.

Sản xuất theo hướng hữu cơ, nông dân sẽ chủ động tự làm phân bón, thuốc BVTV, cây trồng phát triển tốt, cho chất lượng trái ngon hơn; đặc biệt chi phí đầu tư thấp hơn nhiều so với sử dụng các loại phân, thuốc hóa học. Tuy sản xuất theo hướng này không quá khó nhưng đòi hỏi người nông dân phải kiên nhẫn học hỏi, nghiên cứu và quan sát trong suốt quá trình canh tác để tự rút cho mình những kinh nghiệm thực tế.

(Nguồn: Minh Sáng – Phúc Lập, Báo Nông nghiệp Việt Nam)