Viết cho năm 2022

Viết cho năm 2022

Năm 2022 là một năm với nhiều thay đổi trong công việc. Một năm bước ra khởi nghiệp với rất nhiều trải nghiệm, vui có buồn có. Có những lúc khó khăn đến mức mình nghĩ sẽ bỏ cuộc. Nhưng vượt qua bao sóng gió, con thuyền Mầm Xanh đã vượt qua cột mốc 1 năm an toàn và đang chuẩn bị cho những hành trình xa hơn trong năm tới.
Lúc đầu, các đối tác, khách hàng nhìn cty mình với góc nhìn là 1 công ty mới, nhỏ và khó phát triển được. Nhưng đến lúc này có thể nói là cty Mầm Xanh đã phát triển tạm ổn bởi cuộc sống này luôn có những kỳ tích và kỳ diệu. Mình thật may mắn đã tìm được những khách hàng rất tuyệt vời và luôn luôn chia sẻ để cùng đồng hành và phát triển.
Từ lúc ra làm riêng, mình lúc nào cũng biết ơn những điều đã học được khi làm việc tại Ngân hàng. Chẳng hạn như: những kỹ năng chăm sóc, lắng nghe khách hàng, và hiểu được một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi luôn biết lắng nghe phản hồi từ khách hàng và không ngừng hoàn thiện chính mình. Quá trình khởi nghiệp càng giúp mình hiểu thêm sâu sắc là cứ làm tốt và cố gắng hết mình, luôn đồng hành và chia sẻ với khách hàng, với nhà cung cấp thì sẽ ngày càng có nhiều khách hàng và nhà cung cấp tin tưởng và tìm đến mình.
Trong năm 2023, bên cạnh mảng xuất khẩu nông sản, công ty mình đang phát triển thêm về mảng dịch vụ du lịch, rất mong sẽ nhận được sự ủng hộ từ quý khách hàng. Cả nhà mình ai có nhu cầu du lịch Nhật trong 2023 thì liên hệ mình nhé 🙂
Một lần nữa mình xin cám ơn quý khách hàng đã luôn tin tưởng và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Cty Mầm Xanh (Greenbud) trong năm qua. Sự đồng hành của quý vị góp phần vào sự tồn tại và lớn mạnh của cty chúng tôi. Rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ và cộng tác từ quý khách hàng, nhà cung cấp và các đối tác trong năm 2023 sắp tới. Chúc quý vị một năm mới nhiều sức khỏe, thành công và hạnh phúc!
Trân trọng,
Nguyễn Thị Kim Thoa

Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Làm sao để nông sản Việt Nam phát triển bền vững

Việt Nam là một quốc gia đi lên từ nông nghiệp, phần lớn người dân sinh sống ở nông thôn và cuộc sống phụ thuộc vào nghề nông. Tuy nhiên, nông nghiệp lại là ngành có năng suất thấp nhất, đối diện với nhiều rủi ro nhất. Đến nay, ngành nông nghiệp Việt Nam vẫn đang loay hoay tìm lời giải cho bài toán phát triển bền vững, tránh điệp khúc “được mùa, mất giá, được giá, mất mùa”.

Trong thời gian qua, Cty TNHH XNK Mầm Xanh rất hân hạnh được đồng hành cùng người nông dân đưa những nông sản Việt Nam chất lượng cao đến các thị trường thế giới. Từ kinh nghiệm thu mua và xuất khẩu nông sản của mình, đội ngũ của Cty Mầm Xanh đã nhận ra một số vấn đề cần cải thiện trong hoạt động trồng trọt, thu hoạch, chế biến, bảo quản, và xuất khẩu nông sản Việt Nam ra thị trường thế giới. Dưới đây là tóm tắt 1 vài điểm yếu cần khắc phục để ngành nông sản Việt Nam có thể phát triển bền vững.

1/ Phương thức trồng trọt và canh tác lạc hậu: Tư duy trồng trọt theo thói quen, kinh nghiệm, khiến nhiều nông dân lạm dụng thuốc trừ sâu và các loại phân bón hóa học. Điều này, chỉ mang lại lợi ích ngắn hạn, nhưng về dài hạn sẽ có tác hại đến độ màu mỡ của đất, chất lượng tăng trưởng của cây, và tăng khả năng trái cây thu hoạch sẽ bị vướng dư lượng các loại hóa chất độc hại, khiến không thể xuất khẩu đến các quốc gia phát triển, nơi có tiêu chuẩn chất lượng nghiêm ngặt. Vì vậy, người nông dân cần tự trang bị kiến thức, tìm kiếm các phương thức canh tác hữu cơ, thân thiện môi trường, giảm lượng thuốc trừ sâu sử dụng, thì mới hy vọng tăng năng suất, và tăng cơ hội đầu ra cho sản phẩm. 

2/ Thiếu khả năng dự báo và tư duy cộng tác dài hạn: Hầu hết các nông dân, hợp tác xã nông nghiệp và cả những DN tham gia trong chuỗi cung ứng nông sản ở Việt Nam đều chưa tận dụng được sức mạnh của CNTT-VN để hỗ trợ cho việc dự báo và lập kế hoạch dài hạn. Vì vậy, không thể đảm bảo độ ổn định của sản lượng và chất lượng các sản phẩm cung cấp trên thị trường. Điều này gây khó khăn cho tất cả các mắc xích trong chuỗi cung ứng. Vì mở rộng hay thu hẹp diện tích trồng trọt 1 loại cây trái nào đó sẽ có ảnh hưởng đến lượng cung cầu trên thị trường, nên cần phải dựa trên phân tích thấu đáo vào nhu cầu thị trường, năng lực cung cấp, điều kiện thời tiết… Trên thực tế, các hoạt động giữa nhà nông, hợp tác xã, DN xuất khẩu hiện vẫn rời rạc, thiếu sự cộng tác và định hướng dựa trên thông tin dự báo và tầm nhìn dài hạn. Chính phủ, các hiệp hội ngành nghề cần hỗ trợ xây dựng các CSDL dùng chung, thúc đẩy việc khai thác các nguồn thông tin công cộng như dự báo thời tiết, nhu cầu nông sản của thị trường thế giới theo thời gian… để có thể chuẩn bị nguồn lực và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường.

3/ Thiếu khả năng đổi mới và sáng tạo: Trong bối cảnh thay đổi nhanh chóng của thị trường thương mại quốc tế, ảnh hưởng của CMCN 4.0, đòi hỏi nông nghiệp Việt Nam phải thích ứng bằng cách tăng cường năng lực đổi mới và sáng tạo. Cần phải dành nguồn lực để đầu tư cải tiến chất lượng giống cây trồng đạt năng suất cao hơn, cải thiện phương thức canh tác theo hướng thân thiện môi trường, xây dựng thương hiệu, đổi mới mẫu mã, bao bì sản phẩm… Đặc biệt, các viện nghiên cứu nông nghiệp, các hợp tác xã và DN thương mại cần phải chú trọng liên kết với nhau trong các dự án đổi mới sản phẩm, góp phần hình thành những sản phẩm mới, tạo nên thương hiệu mạnh của quốc gia. Chỉ có đầu tư đáng kể vào đổi mới sản phẩm, quy trình, thực hiện cải tiến liên tục mới có thể làm tăng giá trị của sản phẩm nông nghiệp Việt Nam trên thị trường trong nước và quốc tế.

4/ Thiếu liên kết giữa nhà máy chế biến, nhà XNK và công ty logistics: Để sản phẩm đến được tay người tiêu dùng đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị có liên quan trong việc kiểm soát chất lượng, nhiệt độ, phương thức bảo quản, vận chuyển, thủ tục thông quan… để đảm bảo duy trì được chất lượng sản phẩm lâu dài. Bởi vấn đề đối với nông sản là loại sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn, chất lượng giảm rất nhanh khi thay đổi nhiệt độ hoặc do vận chuyển quá lâu. Không những cộng tác trong từng đơn hàng riêng lẻ, mà cần hình thành những mối quan hệ chiến lược lâu dài để cùng chia sẻ lợi ích và giảm bớt rủi ro về giá, sản lượng và chất lượng của ngành hàng này.

5/ Thiếu sự hỗ trợ hiệu quả từ cơ quan quản lý nhà nước: Mặc dù chính phủ Việt Nam có một vài động thái hỗ trợ sự phát triển của ngành nông sản, như: liên kết ba nhà, khuyến khích nông nghiệp 4.0, thúc đẩy xuất khẩu 1 vài mặt hàng nông sản… Tuy nhiên, các hoạt động trên vẫn còn rời rạc và mang tính phong trào mà chưa đi vào hỗ trợ thực chất cho sự phát triển ngành nông sản. Cụ thể hơn, ngành nông sản cần sự hỗ trợ thông tin của chính phủ về các hiệp định tự do thương mại với các nước, các quy định về chất lượng sản phẩm và truy xuất nguồn gốc, các thông tin thống kê, dự báo về tình hình xuất nhập khẩu từng loại mặt hàng, các cơ quan ngoại giao cần tích cực vận động để ngày càng nhiều các mặt hàng có thể được xuất khấu đến các nước phát triển, giảm các thủ tục hành chính, miễn giảm các loại thuế và lệ phí liên quan đến việc cấp phép, kiểm dịch, thông quan… Cần tận dụng tối đa nền tảng CNTT-VT, chính phủ điện tử để cung cấp thông tin kịp thời đến người dân về các quy định, chính sách, tình hình thương mại quốc tế có liên quan, để người dân, doanh nghiệp có thể chủ động trong việc kết nối, tìm kiếm cơ hội và đối tác kinh doanh phù hợp.

Tóm lại, để nông sản Việt Nam có thể nâng cao giá trị, và vị thế trên thị trường thế giới, để ngành nông sản có thể phát triển bền vững, đòi hỏi các bên liên quan trong chuỗi cung ứng nông sản (bao gồm: người nông dân, hợp tác xã nông nghiệp, nhà máy chế biến, nhà XNK, DN logistics…) cần phải cộng tác và thay đổi những điểm tồn tại đã được nhận diện trên. Cụ thể là: 1/ người nông dân phải thay đổi phương thức canh tác theo hướng hiện đại, sạch, an toàn, và ít sử dụng thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học; 2/ cần sử dụng sức mạnh CNTT-VT để nâng cao năng lực dự báo, và điều chỉnh kế hoạch sản xuất, thu hoạch, kinh doanh một cách linh hoạt; 3/ cần đầu tư đổi mới sản phẩm và quy trình để tăng năng suất và giá trị sản phẩm; 4/ cần xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược giữa các bên trong chuỗi cung ứng để gắn kết bền vững vào chuỗi cung ứng nông sản toàn cầu; 5/ cơ quan quản lý nhà nước cần có nhiều chính sách cụ thể, thiết thực và hiệu quả để cải thiện chất lượng, giá trị và hình ảnh thương hiệu của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới. Hy vọng rằng, khi 5 vấn đề trên được nhận diện và giải quyết triệt để, sẽ mang lại lợi ích nhiều hơn cho các bên trong chuỗi cung ứng ngành nông sản, góp phần vào sự phát triển bền vững của ngành nông sản Việt Nam nói riêng, và cả nền kinh tế Việt Nam nói chung. 

Phạm Quốc Trung

Cách mạng nông nghiệp 4.0

Cách mạng nông nghiệp 4.0 – Lối thoát cho nền nông nghiệp lạc hậu

 

Nông nghiệp 4.0 là gì?                             

nông nghiệp 4.0
nông nghiệp 4.0

Khái niệm nông nghiệp 4.0

Nếu ta có công nghiệp 4.0 đã có mặt từ lâu với những phát minh khoa học kĩ thuật hiện đại thì bây giờ song song với nó còn có sự có mặt của cách mạng nông nghiệp 4.0, theo khái niệm của Hiệp hội Máy Nông nghiệp Châu Âu (European Agricultural Machinery, 2017):

– Nông  nghiệp 1.0 xuất hiện ở đầu thế kỷ 20, vận hành với hệ thống tiêu tốn sức lao động, năng suất thấp;

– Nông nghiệp 2.0  đó là Cách mạng xanh, bắt đầu vào những năm 1950, mà điển hình là Ấn Độ sử dụng các giống lúa mì lùn cải tiến; giai đoạn mà canh tác kết hợp sử dụng hóa học hóa trong phân bón và thuốc bảo vệ thực vật; cơ khí phục vụ nông nghiệp  phát triển, máy cày làm đất và máy móc phục vụ công nghệ sau thu hoạch, …

– Nông nghiệp 3.0 là bắt đầu khi định vị toàn cầu (GPS) được ứng dụng đầu tiên để định vị và định hướng. Thứ hai là điều khiển tự động và cảm biến (sensor) đối với nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, dinh dưỡng, từ những năm 1990, máy gặt đập liên hợp được gắn thêm màn hình hiển thị năng suất dựa vào định vị GPS.

– Nông nghiệp 4.0 là thuật ngữ được sử dụng đầu tiên tại Đức. Đối với Việt Nam, áp dụng thành tựu nông nghiệp 4.0 (NN 4.0) là ứng dụng các thành tựu của công nghiệp 4.0 (Internet, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ chiếu sáng, công nghệ robot…) vào nông nghiệp sao cho giảm thiểu công lao động, giảm thất thoát do thiên tai, sâu bệnh, an toàn môi trường, tiết kiệm chi phí trong từng khâu hay toàn bộ quy trình sản xuất – chế biến – tiêu thụ.

Thành phần của nông nghiệp 4.0

Theo tổng kết ở Mỹ đến nay các thành phần chủ yếu của nông nghiệp 4.0 thường được hiểu như sau:

    • Cảm biến kết nối vạn vật (IoT Sensors): Từ dinh dưỡng đất kết nối với máy chủ và các máy kết nối khác là thành phần chủ yếu của nông nghiệp hiện đại. 
    • Công nghệ đèn LED đang trở thành tiến bộ không thể thiếu để canh tác trong nhà vì sự đáp ứng sinh trưởng và năng suất tối ưu.
    • Người máy (Robot) đang thay việc cho nông dân thường làm. Người máy cũng có cả các bộ phân tích nhờ các phần mềm trợ giúp phân tích và đưa ra xu hướng trong các trang trại. 
    • Tế bào quang điện (Solar cells). Phần lớn các thiết bị trong trang trại được cấp điện mặt trời và các bộ pin điện mặt trời trở nên quan trọng.
    • Thiết bị bay không người lái (Drones) và các vệ tinh (satellites) được sử dụng để thu thập dữ liệu của các trang trại.
    • Canh tác trong nhà/hệ thống trồng cây – nuôi cá tích hợp/Thủy canh (khí canh): Hiện nhiều giải pháp đã được hoàn thiện.
    • Công nghệ tài chính phục vụ trang trại (Farm Fintech): Fintech nghĩa là kinh doanh dịch vụ tài chính dựa trên nền tảng công nghệ. Fintech được sử dụng chung cho tất cả các công ty tài chính sử dụng internet, điện thoại di động, công nghệ điện toán đám mây và các phần mềm mã nguồn mở nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của hoạt động ngân hàng và đầu tư. Farm Fintech bao gồm dịch vụ cho vay, thanh toán, bảo hiểm.

Nội hàm của nông nghiệp 4.0

nông nghiệp 4.0
nội hàm nông nghiệp 4.0

 Nông nghiệp 4.0 bao hàm nghĩa rộng của cả trồng trọt, chăn nuôi (có thể hiểu rộng hơn sang cả thủy sản và lâm nghiệp) về nghiên cứu, chuyển giao và sản xuất. Nông  nghiệp hiện đại quan tâm đến độ bền vững và các giải pháp an toàn.

Canh tác (Farming) là thực hiện những kỹ thuật như làm đất, gieo cấy, tỉa cành, luân canh, chăm sóc, thu hoạch, với mục tiêu đạt năng suất cao hơn, bảo vệ môi trường tốt hơn, dựa vào tiến bộ công nghệ kỹ thuật số. 

Thuật ngữ Canh tác 4.0 (Farming 4.0) xuất hiện vào những năm 2010. Đó là các canh tác năng động và hiệu quả. Theo khái niệm của Mạng lưới Chuyên đề Canh tác Thông minh Châu Âu, canh tác thông minh là ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại (ICT) vào nông nghiệp (Cách mạng Xanh lần thứ ba).

Cuộc cách mạng này phối hợp ICT như các thiết bị chính xác, kết nối vạn vật (IoT), cảm biến, định vị toàn cầu, quản lý dữ liệu lớn (Big data), thiết bị bay không người lái (Drone), người máy (Robot)…; nhằm tạo điều kiện cho nông dân tăng thêm giá trị dưới dạng đưa ra được những quyết định khai thác, quản lý hiệu quả hơn. Đó là:

    • Hệ thống thông tin quản lý: đáp ứng nhu cầu thu thập, xử lý, lưu giữ và cung cấp dữ liệu cần thiết để thực hiện những chức năng của trang trại.
    • Nông nghiệp chính xác: thông qua các hệ thống có thể quản lý độ biến động theo không gian và thời gian để cải thiện hiệu quả kinh tế đầu tư và giảm thiểu tác hại của môi trường. Nông nghiệp chính xác còn được hiểu và nền nông nghiệp có thể nuôi sống cả dân số thế giới dự báo 10 tỷ người vào năm 2050.                                                     
    • Nông nghiệp chính xác, tức ngành nông nghiệp sử dụng cảm biến và các thuật toán thông minh để phân phối nước, phân bón và thuốc trừ sâu, đáp ứng cho cây khi cây thực sự cần, nhằm đảm bảo tính sinh lời, tính bền vững và bảo vệ môi trường. Nông dân có thể quyết định tưới tiêu khi thực sự cần thiết và tránh việc lạm dụng thuốc trừ sâu, họ sẽ có thể tiết kiệm được chi phí và nâng cao sản lượng.

(Nguồn: tham khảo từ https://agri.vn/nong-nghiep-4-0/)

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước

Ngày 22/7, Cục Xúc tiến thương mại (Bộ Công Thương) sẽ phối hợp với tỉnh Đắk Lắk tổ chức Phiên tư vấn xuất khẩu sản phẩm sầu riêng Việt Nam theo hình thức trực tiếp (tại Đăk Lăk) và trực tuyến.

 

Cơ hội rộng mở cho xuất khẩu sầu riêng sang các nước
 

Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện tích trồng sầu riêng của Việt Nam gia tăng nhanh chóng. Trước kia sầu riêng mới chỉ được trồng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long và một số nơi tại Đông Nam Bộ. Còn ở hiện tại, loại cây này đang có sự gia tăng diện tích nhanh tại Tây Nguyên.

Theo Cục Trồng trọt (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), năm 2021 sản lượng sầu riêng Việt Nam ước đạt 642.600 tấn, tăng 15% so với năm 2020. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sầu riêng dưới dạng múi đã tách vỏ và được cấp đông.

Trung Quốc là thị trường tiêu thụ sầu riêng tươi nhiều nhất của Việt Nam nhưng chủ yếu vẫn xuất khẩu tiểu ngạch. Kể từ ngày 11/7/2022, sầu riêng của Việt Nam được xuất chính ngạch qua tất cả các cửa khẩu của Trung Quốc.

Đến nay, sầu riêng Việt Nam đang ngày càng thể hiện vị trí thống lĩnh trên thị trường lớn nhất châu Đại Dương – Australia với hàng loạt thương hiệu đặc trưng riêng như ASEAN Produce, Vin Eni, Basel, Ưu Đàm, No1…

Theo Cục Xúc tiến thương mại, khảo sát tại các siêu thị và cửa hàng thực phẩm tại thành phố Sydney, bang New South Wales, Australia đều thấy sầu riêng Ri6 Việt Nam được bày bán tại các khu vực nổi bật nhất. Hiện nay, sầu riêng Việt Nam đã trở thành đối thủ cạnh tranh lớn nhất trên thị trường Australia, tạo lập được nhiều thương hiệu đặc trưng, có sức lan tỏa cao, khẳng định là loại “quả vua” trong các dòng sầu riêng bày bán ở thị trường này.

Tại Australia, sầu riêng đông lạnh cả quả, đông lạnh nguyên múi hoặc múi tách hạt đang là mặt hàng được người tiêu dùng ưa chuộng. Tiềm năng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang Australia rất lớn. Người gốc Á tại Australia thưởng thức sầu riêng đông lạnh quanh năm. Với các đối tượng cư dân khác cũng bắt đầu trải nghiệm sầu riêng do các chiến lược quảng bá thu hút của các quốc gia xuất khẩu sầu riêng.

Theo dự báo của các chuyên gia, quy mô thị trường trái sầu riêng toàn cầu sẽ đạt 28,6 tỷ USD vào năm 2025 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,2% trong giai đoạn năm 2019 – 2025. Sự tăng trưởng của thị trường trái cây sầu riêng được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng tăng về ẩm thực, cùng với sự mở rộng của ngành du lịch.

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN 6 THÁNG NĂM 2022

TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU NÔNG LÂM THỦY SẢN 6 THÁNG NĂM 2022

 

1. Tình hình chung

Theo Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nông lâm thủy sản tháng 6 năm 2022 ước đạt 5,18 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2022 đạt 27,88 tỷ USD, tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt 11,37 tỷ USD, tăng 8,8%; giá trị xuất khẩu thủy sản ước đạt 5,8 tỷ USD, tăng 40,8%; giá trị xuất khẩu các mặt hàng lâm sản ước đạt 9,1 tỷ USD, tăng 3%; giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất ước đạt 1,42 tỷ USD, tăng 64,8%; giá trị xuất khẩu muối ước đạt 2,7 triệu USD, tăng 78,8%.

 

Ước tổng  giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 của Việt Nam tới các thị trường thuộc khu vực châu Á đạt 11,72 tỷ USD, tăng 14,5%; châu Mỹ đạt 8,29 tỷ USD, tăng 9,5%; Châu Âu đạt 3,38 tỷ, tăng 25,5%; châu Đại Dương đạt 477 triệu USD, tăng 28,8%; châu Phi đạt 426 triệu USD, giảm 7,8%. Thị phần của các khu vực Châu Á, Châu Mỹ, Châu Âu, Châu Đại Dương và Châu Phi trong tổng giá trị xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2022 lần lượt là: 42%; 29,7%; 12,1%; 1,7% và 1,5%.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. Giá trị xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ chiếm tỷ trọng 27,3%, tăng 7,9% so với cùng kỳ năm 2021; Trung Quốc chiếm 17,8% (+5,9%) và Nhật bản chiếm 7,1% (+18,5%).

 

2. Xuất khẩu một số mặt hàng chính:

– Cà phê: Xuất khẩu cà phê tháng 6 năm 2022 ước đạt  145 nghìn tấn với giá trị đạt 335 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cà phê 6 tháng đầu năm 2022 đạt 1,03 triệu tấn và 2,32 tỷ USD, tăng 21,7% về khối lượng và tăng 49,7% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Cao su: Xuất khẩu cao su tháng 6 năm 2022 ước đạt  180 nghìn tấn với giá trị đạt 297 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu cao su 6 tháng đầu năm 2022 đạt 779 nghìn tấn và 1,35 tỷ USD, tăng 9,2% về khối lượng và tăng 12,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Chè: Xuất khẩu chè tháng 6 năm 2022 ước đạt  13 nghìn tấn với giá trị đạt 24 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu chè 6 tháng đầu năm 2022 đạt 54 nghìn tấn và 94 triệu USD, giảm 6,4% về khối lượng và giảm 1,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 750 nghìn tấn với giá trị đạt 370 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị xuất khẩu gạo 6 tháng đầu năm 2022 đạt 3,52 triệu tấn và 1,72 tỷ USD, tăng 16,2% về khối lượng và tăng 4,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Rau quả: Giá trị xuất khẩu rau quả tháng 6 năm 2022 ước đạt 250 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu rau quả 6 tháng đầu năm 2022 đạt 1,68 tỷ USD, giảm 17,2 so với cùng kỳ năm 2021.

– Hạt điều: Khối lượng hạt điều xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 50 nghìn tấn với giá trị 307 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu hạt điều 6 tháng đầu năm 2022 đạt 253 nghìn tấn và 1,52 tỷ USD, giảm 7,8% về khối lượng và giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Hạt tiêu: Khối lượng tiêu xuất khẩu tháng 6 năm 2022 ước đạt 25 nghìn tấn, với giá trị đạt 106 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu tiêu 6 tháng đầu năm 2022 đạt 125 nghìn tấn và 566 triệu USD, giảm 19,1% về khối lượng nhưng tăng 14% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Sắn và các sản phẩm từ sắn: Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 6 năm 2022 ước đạt 350 nghìn tấn với giá trị đạt 152 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 1,8 triệu tấn và 783 triệu USD, tăng 13,2% về khối lượng và tăng 28% về giá trị so với cùng kỳ năm 2021.

– Sản phẩm chăn nuôi: Giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi tháng 6 năm 2022 ước đạt 34,8 triệu USD, đưa giá trị xuất khẩu các sản phẩm chăn nuôi 6 tháng đầu năm 2022 ước đạt 176 triệu USD, giảm 15,9% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, xuất khẩu sữa và sản phẩm sữa đạt 56,4 triệu USD, giảm 1,5%; thịt và phụ phẩm dạng thịt và phụ phẩm ăn được sau giết mổ của động vật đạt 45,5 triệu USD, giảm 13,5%.

– Thủy sản: Giá trị xuất khẩu thủy sản tháng 6 năm 2022 ước đạt 1,1 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2022 đạt 5,81 tỷ USD, tăng 40,8% so với cùng kỳ năm 2021. Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nhật bản là 3 thị trường nhập khẩu hàng đầu của thủy sản Việt Nam.

– Gỗ và sản phẩm gỗ: Ước giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ tháng 6 năm 2022 đạt 1,5 tỷ USD, đưa giá trị xuất khẩu gỗ và các sản phẩm gỗ 6 tháng đầu năm 2022 đạt 8,49 tỷ USD, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm 2021.

Trương Thị Quỳnh Vân (vioit.org.vn)

Sầu riêng cấp đông và những điều bạn nên biết

Sầu riêng cấp đông và những điều bạn nên biết

 

Sầu riêng cấp đông giúp cho khách hàng có thể thưởng thức được trong cả 4 mùa mà không cần phải chờ đến đúng mùa vụ sầu riêng. Để tìm hiểu kỹ hơn về loại sầu riêng này mời các bạn theo dõi nhanh bài viết dưới đây của chúng tôi.

Sầu riêng cấp đông là gì?

Sầu riêng cấp đông hiện không chỉ là sản phẩm được nhiều người tiêu dùng rất ưa chuộng mà đây còn là một phương pháp bảo quản sau thu hoạch cứu cánh cho người nông dân trồng sầu riêng.

Sầu riêng cấp đông là loại sầu riêng sau khi thu hoạch sẽ được lột bỏ vỏ, tách hạt và xử lý vệ sinh. Sau đó sầu riêng sẽ được đưa vào buồng đông lạnh và cho ra sản phẩm sầu riêng cấp đông với chất lượng đảm bảo về độ lạnh sâu, độ tươi ngon của sản phẩm sau khi đông lạnh. Màu sắc và hương vị của sầu riêng vẫn còn được bảo quản nguyên vẹn sau khi rã đông.

Sầu riêng cấp đông có ngon không?

Nhiều người tiêu dùng thường cảm thấy lo ngại rằng đối với sầu cấp đông sẽ không giữ được vị tươi ngon tự nhiên. Tuy nhiên với công nghệ hiện đại như hiện nay, sầu riêng cấp đông vẫn giữ được vị tươi ngon và mang đến hương vị đặc trưng nhất.

Sầu riêng cấp đông hiện không chỉ trở thành một sản phẩm được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng mà nó còn là cách bảo quản sầu riêng khi đi xa hoặc bảo quản sau thu hoạch. Sầu riêng cấp đông đều được chế biến từ những trái chín cây tự nhiên. Khi thu hoạch về sẽ được vệ sinh qua hệ thống rửa, từng múi sầu riêng được bóc tách một cách khéo léo và còn nguyên vẹn và được xếp vào hộp nhựa hay túi nilon hút chân không sau đó mới mang đi cấp đông.

Những múi sầu riêng cấp đông sau khi lấy ra rã đông vẫn sẽ giữ được hương vị thơm ngọt, bùi bùi, béo ngậy như mới hái từ trên cây. Đồng thời sản phẩm hoàn toàn không sử dụng các chất bảo quản, chất hóa học hay chất kích thích làm ảnh hưởng đến sức khỏe người dùng.

Bên cạnh đó, chất lượng sầu riêng chín tự nhiên được bóc múi và mang đi cấp đông luôn được các nhà sản xuất kiểm soát 100%, đạt tiêu chuẩn và chất lượng, được chứng nhận là sản phẩm an toàn vệ sinh thực phẩm. Đảm bảo cung cấp những lợi ích cũng như quyền lợi cho người tiêu dùng.

Như vậy chúng ta có thể thấy rằng, sầu riêng cấp đông cũng có chất lượng tốt như sầu riêng chín cây thông thường. Điều đặc biệt người tiêu dùng vẫn có thể thưởng thức được những múi sầu riêng ngon chuẩn vị ngay cả thời điểm trái vụ và không cần phải chờ đợi đến đúng mùa vụ.

Sầu riêng cấp đông vẫn giữ được hương vị tươi ngon tự nhiên sau khi rã đông
Sầu riêng cấp đông vẫn giữ được hương vị tươi ngon tự nhiên sau khi rã đông

Sầu riêng cấp đông để được bao lâu?

Sầu riêng cấp đông để được bao lâu là câu hỏi mà rất nhiều người tiêu dùng đã đặt ra. Những miếng sầu riêng cấp đông, đóng gói đều được thực hiện và tuân thủ theo một quy trình nghiêm ngặt. Những quả sầu được lựa chọn để cấp đông đều không có sử dụng thuốc chín ép. Đối với phần cơm sầu không có chất bảo quản và luôn đảm bảo được đặt trong ngăn đá nhằm giữ được sự tươi mới của miếng sầu riêng.

Do đó sản phẩm có thể bảo quản được 2 năm ở môi trường đông lạnh. Với lượng thời gian này sẽ giúp cho các tín đồ nghiện sầu riêng có thể thỏa thích ăn sầu cả năm. Khi nào muốn ăn thì người tiêu dùng chỉ cần mang ra rã đông 15 phút là có thể dùng được.

Cách cấp đông sầu riêng

Sầu riêng đông lạnh sẽ được thực hiện theo hai quá trình đó chính là cấp đông nhanh và trữ đông. Quá trình cấp đông sầu riêng cần được thực hiện nhanh, để giúp cho các tinh thể đá được hình thành trong quá trình đông băng. Múi sầu riêng dày thì có kích thước tinh thể đá nhỏ và nằm gọn trong các gian bào và bao bọc màng mô của tế bào thịt quả, giúp cho khi phá băng sản phẩm vẫn giữ được chất lượng tốt nhất. Quá trình trữ đông sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố như môi trường chất tải lạnh, kích thước của sản phẩm và đặc điểm của từng sản phẩm mang đi trưc đông. Tùy theo từng đặc điểm của sản phẩm có nồng độ cao hay thấp và kích thước của sản phẩm lớn hay nhỏ để sử dụng môi trường chất tải lạnh có nhiệt độ tương ứng.

Bạn cũng có thể thực hiện cấp đông tại nhà với những quả sầu riêng mà mình không dùng hết. Bạn tách thịt của quả sầu riêng ra, cho vào hộp hoặc túi nilon hút chân không, sau đó đem bỏ vào ngăn đá của tủ lạnh và để ăn dần.

 Cấp đông sầu riêng tại nhà bằng cách bảo quản trong ngăn đá tủ lạnh
Cấp đông sầu riêng tại nhà bằng cách bảo quản trong ngăn đá tủ lạnh

 

Trên đây là những thông tin có liên quan tới sầu riêng cấp đông. Hy vọng sau bài viết này sẽ giúp cho các bạn hiểu rõ hơn về sản phẩm sầu riêng đông lạnh này và có thể tự tin lựa chọn và thưởng thức chúng.

Tương lai của kinh tế Việt Nam là Công nghệ thông tin và Nông nghiệp

Tương lai của kinh tế Việt Nam là Công nghệ thông tin và Nông nghiệp

“Bây giờ có nhiều hướng phát triển. Hầu hết là kế hoạch, chiến lược hoặc đang trong quá trình thử nghiệm. Nhưng tôi đã nhắc lại nhiều lần: Chỉ có 2 ngành mới đích thực là tương lai của kinh tế Việt Nam: IT (Công nghệ thông tin) và nông nghiệp”, Tiến sĩ Alan Phan phát biểu.

Dồi dào nguồn tài nguyên

Tại sao IT lại là tương lai của kinh tế Việt Nam và lại được đặt lên hàng đầu? Thứ nhất dân số Việt Nam là dân số trẻ. Ngành IT rất cần chất xám về sự sáng tạo, năng động; điều đó cần có những đầu óc trẻ. Tôi nghĩ ở Việt Nam, đó là một tài nguyên rất dồi dào.

Câu chuyện mới đây thôi, tôi lên trang Amazon mua mấy món đồ cần. Một việc rất bình thường khi ở Hoa Kỳ, nhưng ở Việt Nam thì không sao thực hiện được. Bởi những trang mạng tại Việt Nam khi check vào để thực hiện giao dịch mua hàng thì máy chủ ở Mỹ chặn hết.

Tôi hỏi anh bạn là một chuyên gia hàng đầu về IT ở Mỹ: Tại sao lại có hiện tượng đó? Bạn tôi giải thích: Ngày xưa khi internet mới bắt đầu, những tay hacker giỏi nhất là bên Đông Âu, nhưng bây giờ giỏi nhất là hacker ở Việt Nam và Trung Quốc. Thế nên, cứ thấy các địa chỉ mạng xuất phát từ Việt Nam đi là thế giới người ta đề phòng. Tức là trí thông minh của người mình rất tuyệt vời, có điều trí thông minh ấy (ở đây đang nói trong lĩnh vực IT) phần lớn lại chưa được định hướng.

Đó là một cái đáng buồn. Nhưng mặt khác nó chứng minh là người mình có đủ kỹ năng và trí tuệ để cạnh tranh với thế giới về IT, nếu chúng ta có định hướng cho lớp trẻ sử dụng trí tuệ của mình. Thành ra tôi nghĩ đó là một hướng đi tốt cho tương lai của kinh tế đất nước. Thêm nữa, IT đâu cần đường sắt cao tốc, đâu cần nhà máy điện nguyên tử, mà chỉ cần một đường truyền thật là tốt là có thể kết nối với cả thế giới.

Quan trọng là biết nắm bắt cơ hội

Cái lợi thế thứ hai tôi cũng cho là tương lai của kinh tế đất nước, là nông nghiệp. Việt Nam mình có may mắn là khí hậu rất ôn hòa, thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, lại có thêm vùng biển bao la để khai thác ngư nghiệp. Có thể nói đây là mặt mạnh của Việt Nam ngay cả so với Trung Quốc. Mình muốn làm về ôtô để cạnh tranh với Trung Quốc thì nên quên đi, ngay cả với Thái Lan mình cũng không đủ sức cạnh tranh.

Công nghiệp đóng tàu thì chúng ta đều biết nó gây hậu quả với môi trường như thế nào rồi, những nước phát triển không ai còn làm nữa nên mới mang sang ta, vì thế nên dừng càng sớm càng tốt. Tất cả những cái đó không phải là tương lai đất nước, dù vẫn có những trường hợp đặc biệt có sự đột phá. Phần lớn người dân Việt Nam vẫn là những người sống về nghề nông, nếu cho họ một môi trường để tự phát triển, đem tới những công nghệ mới nhất từ Israel, từ Hoa Kỳ, từ châu Âu … thì sức đột phá nông nghiệp Việt Nam có thể nói sẽ rất cao.

Tôi lấy ví dụ cà phê. Chúng ta trồng cà phê 100 năm nay sản lượng không tăng, chất lượng không cải thiện. Chúng ta ở trong nhóm những quốc gia xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới, nhưng thương hiệu hoàn toàn không có, chất lượng không được đánh giá cao, chỉ xuất khẩu nguyên liệu thô để người ta chế biến mà thôi. Dù “ông chủ” cà phê Trung Nguyên Đặng Lê Nguyên Vũ cũng là bạn tôi, lúc nào cũng ca tụng thương hiệu của mình, nhưng thực tình trên thế giới không ai biết đến. Câu chuyện xuất khẩu gạo cũng tương tự.

Vậy nên mới nói cần phải có sự đột phá. Chẳng hạn thay vì trồng điều chúng ta có thể trồng cây vani giá trị kinh tế hơn rất nhiều, với thời giá bây giờ trên thế giới 1kg khoảng hơn 20.000USD. Ngay cả việc nuôi cá xuất khẩu, tôi có một anh bạn đang chuyển hướng hoạt động mạnh trong việc nuôi cá tầm để lấy trứng bán mấy ngàn USD/kg thay vì đi bán cá tra như trước.

Tất cả cơ hội nằm ở đó, nhưng phải biết nắm bắt. Muốn nắm bắt được thì phải có chất xám, có tìm tòi suy nghĩ; mà quan trọng nhất là phải dám đột phá mới dám tận dụng các chất xám được cung cấp hay tự tìm tòi học hỏi được.

– Tiến sĩ Alan Phan –

🎯Trích từ sách Góc nhìn Alan – Dành tặng doanh nhân Việt trong thế trận toàn cầu

Bắc Giang kêu gọi bốn phương đến thu mua vải thiều

Bắc Giang kêu gọi bốn phương đến thu mua vải thiều

 

Ngày 25/5/2022, tỉnh Bắc Giang đã phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, các tỉnh, thành phố và các bạn quốc tế tổ chức Hội nghị trực tuyến tiêu thụ vải thiều tại gần 80 điểm cầu trong nước và quốc tế.

Trong đó có 60 điểm cầu của các tỉnh, thành phố trong nước; 1 điểm cầu tại Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam; 6 điểm cầu tại tỉnh Quảng Tây, tỉnh Vân Nam, tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc; 4 điểm cầu tại Nhật Bản; 1 điểm cầu tại Australia, 1 điểm cầu tại Singapore, 2 điểm cầu tại Thái Lan, 1 điểm cầu tại Dubai.

VẢI VIETGAP CHIẾM 54% TỔNG DIỆN TÍCH TOÀN TỈNH

Theo báo cáo của UBND tỉnh Bắc Giang, năm 2022, diện tích vải thiều toàn tỉnh duy trì 28.300 ha, sản lượng ước đạt 180 nghìn tấn, giảm khoảng 40.000 tấn so với năm 2021. Trong đó, vải chín sớm 6.750 ha, sản lượng ước đạt 60 nghìn tấn; vải thiều chính vụ diện tích 21.250 ha, sản lượng ước đạt 120 nghìn tấn.

Phát biểu chiêu thương tại hội nghị, ông Phan Thế Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang , cho biết tỉnh luôn coi trọng tất cả các thị trường gồm cả trong nước và xuất khẩu. Đối với thị trường trong nước, ngay từ đầu vụ vải thiều đã được kết nối tiêu thụ trong hệ thống phân phối bán lẻ tại các siêu thị lớn như: Megamart, GO!, Coopmart, các chợ đầu mối hoa quả ở TP. Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đồng Nai, các thị trường ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên trong cả nước.

“Năm 2022, diện tích vải sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP là 15.200 ha, chiếm 54% tổng diện tích toàn tỉnh, sản lượng ước đạt 112.900 tấn, chiếm 62,7% tổng sản lượng vải; vùng sản xuất để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Úc có diện tích 218 ha, sản lượng ước đạt 1 nghìn tấn; vùng sản xuất vải thiều sang thị trường Nhật Bản có diện tích 269,45 ha, sản lượng ước đạt 1.800 tấn”.

Ông Phan Thế Tuấn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang.

Đối với thị trường xuất khẩu, tỉnh Bắc Giang tiếp tục duy trì xuất khẩu quả vải tươi và vải thiều chế biến. Thị trường Trung Quốc vẫn được xác định là thị trường truyền thống, có quan hệ hợp tác nhiều năm qua.

Ngoài tiếp tục xuất khẩu vào các thị trường Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Malaysia, các Tiểu vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Singapore… Bắc Giang còn mở rộng thị trường xuất khẩu vải thiều sang Trung Đông, Thái Lan, Canada…

Tỉnh Bắc Giang cũng quan tâm đổi mới phương thức tiêu thụ, kết hợp phương thức bán hàng truyền thống và đẩy mạnh tiêu thụ vải thiều trên các Sàn thương mại điện tử trong nước và quốc tế; thúc đẩy các hoạt động giới thiệu, tiêu thụ vải thiều trên mạng xã hội, các Fanpage, Face book, Zalo…

Đến thời điểm hiện tại, đã có rất nhiều doanh nghiệp đăng ký thu mua vải thiều Bắc Giang, trong đó có nhiều thương nhân trong nước và các nước như: Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, các nước Đông Nam Á, EU, Thái Lan…

Để tạo thuận lợi cho tiêu thụ vải thiều, ông Tuấn đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tiếp tục quan tâm hỗ trợ, hướng dẫn tỉnh Bắc Giang triển khai thực hiện công tác sản xuất, chế biến nông sản, vải thiều đáp ứng yêu cầu theo quy định của Tổng cục Hải quan Trung Quốc.

Phối hợp hướng dẫn tỉnh Bắc Giang thực hiện quy trình sản xuất, quản lý chất lượng và truy xuất nguồn gốc, mã số vùng trồng đảm bảo các điều kiện an toàn thực phẩm; thông tin về hàng rào kỹ thuật và các điều kiện, tiêu chuẩn đáp ứng yêu cầu xuất khẩu vải thiều vào các thị trường nước ngoài.

Với Bộ Công Thương, ông Tuấn đề nghị Bộ quan tâm, hỗ trợ giới thiệu và kết nối các các doanh nghiệp, thương nhân xuất nhập khẩu vải thiều trong và ngoài nước đến tỉnh Bắc Giang tìm hiểu, hợp tác, tiêu thụ trái vải tươi và các sản phẩm chế biến từ vải thiều; hỗ trợ, thúc đẩy tiêu thụ vải thiều Bắc Giang trên các Sàn thương mại điện tử trong và ngoài nước.

DOANH NGHIỆP, ĐỐI TÁC HƯỞNG ỨNG TIÊU THỤ VẢI THIỀU

Ông Nguyễn Phi Thoàn, Giám đốc Công ty JV Solutions, đại diện doanh nghiệp nhập khẩu vải thiều tại điểm cầu Thành phố Tokyo (Nhật Bản), chia sẻ năm 2022 là năm thứ 3 Công ty đồng hành đưa vải thiều Bắc Giang vào thị trường Nhật Bản.  

“Vải thiều là loại trái cây được mong đợi nhất vào mùa hè hằng năm tại Nhật Bản. Với thế mạnh về độ ngọt và hương thơm của trái vải Bắc Giang nói riêng và Việt Nam nói chung là tiền đề tốt cho lợi thế cạnh tranh giữa vải Việt Nam và vải từ các nước khác khi vào Nhật”, Ông Thoàn nhận định.

“Từ cách đây 2-3 tháng, các đơn vị nhập khẩu đã bắt đầu lên kế hoạch chào bán đến khách hàng, lên kế hoạch nhập hàng cho chuyến đầu tiên. Tuy nhiên, năm nay Nhật Bản áp dụng quy định kiểm tra dư lượng thuốc bảo vệ thực vật đối với nông sản từ Việt Nam. Vì vậy, doanh nghiệp sẽ thực hiện các bước thận trọng, thu mua vải thiều chất lượng cung cấp đến người tiêu dùng”.

Ông Nguyễn Phi Thoàn, Giám đốc Công ty JV Solutions, Nhật Bản.

Theo ông Jose Mestre, đại diện lãnh đạo Tập đoàn Central Retail tại Việt Nam, Central Retail sẽ dành những vị trí đẹp nhất trong hệ thống siêu thị GO!, Big C, Tops Market trưng bày trái vải Bắc Giang, đồng thời áp dụng hàng loạt chương trình kích cầu mua sắm đặc biệt hấp dẫn.

“Đặc biệt năm nay, lần đầu tiên, bộ phận bán hàng tại các siêu thị của Central Retail sẽ tiến hành live stream bán vải nhằm tiếp cận nhiều “tệp” khách hàng hơn. Chú trọng vào việc trưng bày tại các cửa hàng và bảo đảm chất lượng vải khi bày bán tại siêu thị”, ông Jose Mestre cho hay.

Bà Trần Thị Thu Trang, Tham tán Đại sứ quán Việt Nam tại Vương quốc Thái Lan, từ điểm cầu thành phố Bangkok, cho biết trong thời gian tới, Đại sứ quán Việt Nam tại Thái Lan – đầu mối là Thương vụ sẽ tiếp tục tích cực phối hợp với tỉnh Bắc Giang xây dựng định hướng phát triển thị trường dài hạn đối với mặt hàng vải thiều tại Thái Lan, chuyên nghiệp hóa phương thức tiếp cận, cách thức tiếp thị phù hợp với từng phân khúc khách hàng mục tiêu.

Đồng thời, phối hợp cùng các doanh nghiệp nhập khẩu và bán lẻ hàng đầu tổ chức các chương trình tuần hàng gồm nhiều hoạt động quảng bá vải thiều sinh động, tăng tính tương tác với khách hàng, góp phần tăng trải nghiệm và khuyến khích tiêu dùng.

Theo đại diện Sở Thương mại tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), thời gian gần đây, năng lực thông quan tại các cửa khẩu hai nước Việt Nam-Trung Quốc tăng dần lên, tạo nền móng cho giao lưu thương mại và xuất nhập khẩu thời gian tới. Để tránh ùn tắc, bảo đảm chuỗi cung ứng thương mại xuyên biên giới, thời gian tới hai bên tiếp tục hợp tác chặt chẽ.

Cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ vải thiều, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương, cho biết sẽ chỉ đạo quyết liệt, hết sức cụ thể từng nhóm vấn đề các đại biểu quan tâm như đảm bảo an toàn thực phẩm, vấn đề bảo quản, môi trường, tạo luồng xanh cho vải thiều…

“Tỉnh Bắc Giang quyết tâm thực hiện phương châm tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho việc tiêu thụ vải thiều; phát huy tối đa các kênh phân phối truyền thống với các bạn hàng trong và ngoài nước; triển khai hiệu quả kênh phân phối thương mại điện tử; thực hiện linh hoạt phương pháp giao nhận hàng để đảm bảo phòng chống dịch”, ông Lê Ánh Dương khẳng định

Sau hội nghị đã diễn ra Lễ ký kết biên bản ghi nhớ hợp tác tiêu thụ vải thiều Bắc Giang năm 2022 trên các sàn thương mại điện tử và nền tảng online và Lễ cắt băng xuất hành vải thiều Bắc Giang tiêu thụ tại thị trường trong và ngoài nước.

(Nguồn: Chương Phượng – VnEconomy)

 

Xuất khẩu trái cây Việt gia tăng tại nhiều thị trường trên thế giới

Trong nhiều năm gần đây, trái cây Việt Nam đã thâm nhập thành công vào nhiều thị trường khó tính, vượt qua những hàng rào kỹ thuật và tiêu chuẩn khắt khe.

Trong dự báo mới nhất của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), kinh tế Việt Nam có thể phục hồi ở mức 6,5% trong năm nay. Trong đó, riêng sản lượng nông nghiệp dự báo sẽ tăng 3,5% trong năm nay, còn hoạt động xuất khẩu hàng hóa sẽ tăng 8 -10%.

Trong bức tranh tổng quan đó có những đóng góp tích cực từ mặt hàng trái cây. Việc được cấp phép xuất khẩu hoa quả tươi vào các thị trường lớn như Mỹ, EU, Australia và Nhật Bản… không chỉ đem lại nguồn thu mà còn góp phần khẳng định uy tín, chất lượng và vị thế của nông nghiệp Việt Nam trên trường quốc tế.

Dịch bệnh khiến quý 1 năm nay trái cây xuất khẩu tuy giảm mạnh tại thị trường Trung Quốc, nhưng đã có sự chuyển dịch khá tích cực sang các thị trường có giá trị xuất khẩu cao như: EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia…

Bên cạnh các loại trái cây chính có sự sụt giảm nhẹ, chuối, dừa và sầu riêng có mức tăng trưởng tốt hơn kỳ vọng.

Ước tính, xuất khẩu chuối quý 1 đạt gần 30 triệu USD, tăng 143% và xuất khẩu sầu riêng đạt 5 triệu USD, tăng 424% so với cùng kỳ năm 2021.

Riêng dừa xuất khẩu, bao gồm dừa tươi và chế biến, đạt giá trị gần 13 triệu USD, có mức tăng trưởng vượt trội.

Tiềm năng xuất khẩu trái cây sang Australia

Dịch bệnh hơn 2 năm qua đã khiến các giao dịch thương mại quốc tế bị đứt gãy. Tuy nhiên, với những thị trường ưa chuộng các sản phẩm trái cây Việt, dịch bệnh cũng không làm gián đoạn hoàn toàn hoạt động xuất khẩu.

Thương vụ Việt Nam tại Australia cho biết, vượt qua hàng rào kỹ thuật để “mở cửa” thị trường này là thách thức lớn của trái cây tươi Việt Nam. Quá trình đàm phán để đưa một loại trái cây vào nước này thường kéo dài 5 – 10 năm.

Đến nay, Việt Nam đã chính thức được cấp phép xuất khẩu 4 loại hoa quả tươi sang Australia gồm: xoài, nhãn, vải, thanh long. Để trái cây Việt có mặt tại thị trường Australia đã khó, nhưng để khẳng định và định vị được thương hiệu trái cây Việt tại thị trường lớn nhất Châu Đại Dương này lại càng khó hơn.

Tháng 1 năm nay, lần đầu tiên 3 tấn bơ đông lạnh chất lượng cao từ vùng đất Tây Nguyên đã được xuất khẩu sang Australia với giá bán 7 AUD/kg (khoảng 120.000 đồng/kg).

Trước đó, sầu riêng đông lạnh Ri6 của Việt Nam cũng đã gây tiếng vang lớn khi liên tục cháy hàng tại chuỗi siêu thị, cửa hàng tại Australia.

Các mặt hàng trái cây tươi của Việt Nam như thanh long, xoài, nhãn hay vải đều trở thành mặt hàng được ưa thích tại “xứ sở chuột túi” và có tính cạnh tranh cao với các sản phẩm cùng loại.

“Cách đây khoảng 2 – 3 năm, sầu riêng Thái Lan bán rất nhiều, nhưng giờ sầu riêng Thái Lan không còn bán được nữa. Người ta ăn sầu riêng Việt Nam gần như là chính. Vì vậy, riêng cửa hàng này đã bán 2 – 3 tấn trong một tuần lễ. Còn thanh long đỏ của Việt Nam thì tiêu thụ rất mạnh. Trong 1 tuần lễ, cửa hàng này tiêu thụ khoảng 2 – 3 tấn, vì thanh long đỏ Việt Nam ngon, giá rẻ, còn thanh long đỏ của Australia giá rất đắt”, ông Nguyễn Thanh Tùng, Chủ shop Thanh Thiên, Springvale Fresh Market, Australia, cho biết.

Ngay trong tháng 3, hàng chục tấn thanh long Việt Nam đã được nhập khẩu vào thị trường Australia. Hiện tại, nhiều siêu thị của Australia đang bán thanh long Việt Nam với giá khoảng 200.000 đồng/kg.

Mặc dù Australia đang vào mùa thanh long và được bày bán tại các siêu thị, nhưng những đơn vị phân phối tại đây vẫn quyết tâm nhập khẩu thanh long Việt.

“Thương hiệu thanh long Việt Nam được biết đến nhiều hơn nhờ một số doanh nghiệp Việt đã hợp tác với nhà nhập khẩu Australia đóng gói lại sản phẩm. Khi đó sẽ có cả thương hiệu Việt Nam và thương hiệu địa phương của Australia trên sản phẩm trái cây Việt. Như vậy, 2 công ty của 2 quốc gia phối hợp với nhau để dựng thương hiệu cho nhau”, ông John Tryfopolous, Giám đốc xuất nhập khẩu đồ tươi Công ty Zaden, Australia, cho hay.

Để trái cây Việt Nam đến gần hơn với người tiêu dùng Australia, thời gian qua, Thương vụ Việt Nam cùng các doanh nghiệp nhập khẩu đã triển khai nhiều hoạt động quảng bá thương hiệu, xúc tiến thương mại thiết thực và hiệu quả, như chương trình “Hành trình thưởng thức sầu riêng” bằng ô tô cổ trên đường phố Sydney; sự kiện “giới thiệu và mời dùng thử sản phẩm” hay quảng bá trên mạng xã hội, tổ chức đấu giá trái cây…

“Đầu mùa vải, chúng tôi có chương trình đấu giá vải. 1 kg đầu tiên của năm đạt 3.000 AUD, được lên báo. Những thông tin này gây thiện cảm với khách hàng và họ rất ủng hộ”, ông Lý Hoàng Duy, Tổng Giám đốc Công ty 4way Fresh, chia sẻ.

Thương vụ Việt Nam tại Australia nhận định, số lượng trái cây Việt Nam thâm nhập vào “xứ sở chuột túi” sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian tới. Trên thực tế, bên cạnh nghiên cứu kỹ thị hiếu người tiêu dùng, việc bảo đảm chất lượng; cải thiện bao bì, mẫu mã là cách giúp trái cây Việt tạo dựng thương hiệu bền vững tại cường quốc nông nghiệp như Australia.

Mở rộng xuất khẩu chuối Laba

Cùng những loại trái cây xuất khẩu thế mạnh như thanh long, xoài, vải…, ngành nông nghiệp cũng không ngừng đầu tư, mở rộng sản phẩm xuất khẩu để thâm nhập thị trường quốc tế. Trong đó, chuối Laba (chuối Tiến Vua) đang được trồng nhiều tại Tây Nguyên được đánh giá là mặt hàng xuất khẩu tiềm năng.

Với sản lượng mỗi năm khoảng 2,3 triệu tấn, Việt Nam đang phấn đấu trở thành nơi có nguồn cung cấp chuối lớn cho thị trường quốc tế. Với quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn GlobalGAP, sản phẩm chuối Laba của Hợp tác xã (HTX) Laba Banana Đạ K’Nàng đã chinh phục được thị trường Nhật Bản và đang mở rộng sang thị trường Mỹ, Hàn Quốc, Malaysia và Trung Quốc với sản lượng xuất khẩu hàng năm khoảng hơn 7.000 tấn.

 

Với thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng, năm 2021, HTX Laba Banana Đạ K’Nàng đã vận động nông dân chuyển đổi khoảng 50 ha diện tích cà phê già cỗi sang trồng chuối Laba, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu theo hợp đồng đã ký kết.

“Nếu mình không có cây giống thì họ cũng cung cấp cây giống, thiếu cái gì, cần cái gì thì mình cũng có thể gọi hợp tác xã, người ta hỗ trợ kỹ thuật, đưa người vào hướng dẫn kỹ thuật làm cho cây chuối đẹp hơn”, anh Bàng Hải Luyên, xã Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, Lâm Đồng, cho biết.

“Hợp tác xã hướng dẫn chăm sóc từ lúc trồng đến lúc thu hoạch, ví dụ chăm sóc phân, thuốc, bao buồng định hình, định nải cho nó đạt”, bà Võ Thị Thu, Phó Giám đốc HTX Laba Banana Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, Lâm Đồng, chia sẻ.

Hiện nay, bình quân mỗi tháng, HTX Laba Banana Đạ K’Nàng xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản gần 1.000 tấn chuối Laba chất lượng cao, đồng thời cung ứng đa dạng các sản phẩm chuối Laba cho thị trường trong và ngoài tỉnh Lâm Đồng.

“Đối với địa phương, đặc biệt là chính quyền xã cũng đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất và mời các đơn vị tư vấn cũng như chuyển giao khoa học kỹ thuật, làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến cho bà con về hiệu quả và năng suất, cũng như là chất lượng của chuối Laba xuất khẩu sang nước ngoài”,ông Lê Đình Mạnh, Phó Chủ tịch UBND xã Đạ K’Nàng, huyện Đam Rông, Lâm Đồng, cho hay.

Không chỉ giúp nông dân xóa đói, giảm nghèo, từng bước vươn lên làm giàu, mà chuối Laba ở xã Đạ K’Nàng đang ngày càng khẳng định được giá trị thương hiệu, chinh phục nhiều thị trường trong và ngoài nước.

Đẩy mạnh xuất khẩu quả vải vào Mỹ

Trái cây nhiệt đới Việt Nam có mặt ở các thị trường khó tính như châu Âu, Australia, Mỹ hay Nhật Bản là một sự thành công lớn, nhưng làm gì để duy trì và giữ vững những thị trường này? Một dẫn chứng từ quả vải tươi. Những năm gần đây, quả vải tươi của Việt Nam liên tục được cấp phép xuất khẩu sang các thị trường lớn như Nhật Bản, Mỹ, Singapore… với giá cao.

Riêng tại Mỹ, dù là thị trường rất hứa hẹn, nhưng hiện đa phần người dân nước này đều không quen thuộc với các loại trái cây nhiệt đới, trong đó có quả vải. Phóng viên Đài THVN thường trú tại Mỹ đã tìm hiểu ý kiến của doanh nghiệp và cơ quan chức năng.

“Ở thị trường Mỹ, quả vải tươi chưa được thông dụng lắm. Theo tôi biết trong nội địa, ví dụ như ở Florida, vải chất lượng gần như vải thiều của mình giá khoảng 8 USD/pound. Vải từ Mexico hay Nam Mỹ có giá dao động từ 4 – 6 USD/pound. Còn vải từ Việt Nam vận chuyển sang bên này theo đường hàng không, mình phải bán với giá 17 – 18, có lúc tới 20 USD/pound. Do đó, mình rất khó cạnh tranh với họ về trái vải tươi. Theo tôi nghĩ, chắc chỉ có một con đường là mình cạnh tranh với họ về trái vải chế biến. Trái vải chế biến hầu như bên này chưa có. Vì bên này, số lượng vải tươi họ sản xuất ra chỉ đủ để dùng thử qua, chứ họ không có nhiều để chế biến. Tại sao mình có nhiều, mình không chế biến từ Việt Nam, sau đó từ từ vận chuyển sang bằng đường thủy, rẻ hơn. Ở đây họ chưa có nhiều, mình làm như vậy sẽ cạnh tranh được với họ”, ông Tony Trần, Giám đốc Global Communication Services Enterprise, Bang New Jersey, Mỹ, nhận định.

“Trái cây Việt Nam, chẳng hạn như là quả vải, hầu hết có một ưu điểm là thơm, ngon, đạt được hai đặc tính là mùi, vị. Đây là nhận xét của rất nhiều khách hàng Mỹ. Tuy nhiên, Việt Nam nằm ở vùng địa lý gió mùa nhiệt đới, nóng ẩm, nắng nhiều. Do vậy việc canh tác trồng trọt và bảo quản sau thu hoạch còn gặp không ít khó khăn. Để nâng cao sức cạnh tranh của trái cây Việt Nam vào thị trường Mỹ cần lưu ý một số điểm. Thứ nhất là phải đặt chất lượng lên hàng đầu. Thứ hai, phải đảm bảo nghiêm túc các tiêu chuẩn về mã số vùng trồng, xuất xứ, quy định an toàn vệ sinh thực phẩm, nhập khẩu. Để có thể cập nhật được các thông tin mới nhất, tránh phát sinh những vướng mắc không cần thiết, có thể trao đổi thông tin qua doanh nghiệp đối tác hoặc qua các cơ quan đại diện Việt Nam tại Mỹ. Thứ ba là cần đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá thương hiệu trái cây Việt Nam đến rộng rãi khách hàng Mỹ, đặc biệt là với khách hàng gốc Âu, vốn không biết nhiều về trái cây nhiệt đới”, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Trưởng Đại diện Văn phòng Xúc tiến Thương mại Việt Nam tại New York, Mỹ, đánh giá.

Những gợi ý trên đối với quả vải cũng phù hợp với những loại trái cây khác của Việt Nam, hiện đang được xuất khẩu. Cuộc sống của người nông dân chắc chắn sẽ thay đổi nếu việc xuất khẩu trái cây ổn định và mang lại giá trị cao.

(Nguồn: VTV.vn)

Sầu riêng Việt Nam trên đường ra thế giới

Quy mô thị trường trái cây sầu riêng toàn cầu sẽ đạt 28,6 tỷ USD vào năm 2025. Để nắm bắt cơ hội này, cùng với việc tìm kiếm thị trường mới thì cần chú trọng việc xây dựng thương hiệu cho trái sầu riêng Việt Nam.

Nhu cầu thị trường rộng mở

Cục Xuất nhập khẩu- Bộ Công Thương- dẫn nguồn freshplaza.com cho biết, quy mô thị trường trái cây sầu riêng toàn cầu sẽ đạt 28,6 tỷ USD vào năm 2025 và đạt tốc độ tăng trưởng bình quân là 7,2% trong giai đoạn năm 2019 – 2025. Sự tăng trưởng của thị trường trái cây sầu riêng được thúc đẩy bởi nhu cầu ngày càng tăng về ẩm thực, cùng với sự mở rộng của ngành du lịch.

Ngoài ra, nhận thức về lợi ích sức khỏe của người tiêu dùng đối với trái sầu riêng được nâng cao cũng sẽ thúc đẩy nhu cầu sản phẩm. Loại quả này giúp kiểm soát lượng đường và giảm nguy cơ ung thư do có đặc tính chống oxy hóa, chống trầm cảm và chống lão hóa. Trong số các sản phẩm làm từ trái sầu riêng, thì sản phẩm bột và sầu riêng dạng nhuyễn cấp đông chiếm thị phần lớn, trong năm 2018 các sản phẩm này chiếm 70% trong số các sản phẩm được làm từ trái sầu riêng. Thái Lan và Malaysia là những thị trường sản xuất sầu riêng và xuất khẩu sầu riêng dạng nhuyễn đông lạnh trên toàn thế giới. Do sản phẩm này dễ vận chuyển hơn là cung cấp trái sầu riêng tươi, bảo quản được lâu hơn, vì vậy các sản phẩm này dự kiến sẽ tăng trưởng nhanh trong giai đoạn dự báo.

Tìm kiếm thị trường mới và xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam
Tìm kiếm thị trường mới và xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam

Hiện nay, Trung Quốc được xem là nơi tiêu thụ lý tưởng cho sầu riêng. Theo một số liệu của Liên hiệp quốc, nhập khẩu sầu riêng tươi của Trung Quốc tăng trung bình 26% mỗi năm trong thập kỉ qua. Thái Lan đang thống trị thị trường tỉ dân này. Tuy nhiên, Malaysia cũng đang có những bước xâm nhập mạnh mẽ khiến người Thái lo ngại.

Năm 2020, Trung Quốc nhập khẩu sầu riêng đông lạnh từ Thái Lan đạt 63,43 triệu USD, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2019; với giá nhập khẩu bình quân đạt 5,8 USD/kg, tăng 2,9% trong cùng kỳ năm 2019; nhập khẩu sầu riêng đông lạnh từ Malaysia đạt 40,37 triệu USD, tăng 128,4% so với nửa đầu năm 2019.

Cho đến thời điểm này, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của sầu riêng Việt Nam. Tuy nhiên, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sầu riêng dưới dạng múi, đã tách vỏ và được cấp đông. Trung Quốc là thị trường tiêu thụ sầu riêng tươi nhiều nhất của Việt Nam nhưng chủ yếu là xuất tiểu ngạch, còn chính ngạch vẫn đang đàm phán. Trong năm nay, thị trường này đóng cửa tiểu ngạch nên xuất khẩu sầu riêng nước ta gặp nhiều khó khăn. Hiện, Việt Nam đang xúc tiến đàm phán để có thể xuất khẩu chính ngạch sầu riêng sang Trung Quốc, khi đó, cơ hội cho trái sầu riêng Việt Nam sẽ rộng mở hơn.

Tại Australia, sầu riêng đông lạnh cả quả, đông lạnh nguyên múi, hoặc múi tách hạt đang là mặt hàng được người tiêu dùng ưa chuộng. Tiềm năng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh sang Australia là rất lớn. Người gốc Á tại Australia thưởng thức sầu riêng đông lạnh quanh năm. Người gốc Tây phương cũng bắt đầu trải nghiệm do các chiến lược quảng bá sầu riêng của nhiều quốc gia gây hiếu kỳ. Sản phẩm này chủ yếu được nhập khẩu từ một số các quốc gia châu Á, trong đó sầu riêng Thái Lan và Malaysia đang chiếm lĩnh thị trường. Đối với Việt Nam, hoàn toàn có thể thay thể quả tươi vốn phải mất thời gian dài đàm phán mở cửa. Đây được xem là “con đường mới” sầu riêng Việt Nam đặt chân thị trường khó tính này.

Để chiếm lĩnh thị trường sầu riêng trị giá hàng triệu USD trong thời gian qua, Thương vụ Việt Nam tại Australia đã có nhiều chương trình để phát triển thương hiệu sầu riêng Việt Nam tại thị trường này. Năm 2019, Thương vụ đã xây dựng báo cáo nghiên cứu thị trường, và tư vấn các doanh nghiệp việc xây dựng thương hiệu bao bì. Ví dụ, đối với đông lạnh nguyên quả nên có tem nhãn hiệu và lưới bao quanh để dễ xách. Nếu có lưới bằng sợi bàng, lục bình càng gây được ấn tượng sinh thái. Đối với sầu riêng đông lạnh nguyên múi nên có hộp giấy và có vị trí trong suốt để khách hàng nhìn thấy sầu riêng; màu sắc nên sang trọng để xứng tầm “quả vua”.

Cũng trong năm 2019, Thương vụ đã chủ động kết nối nhập khẩu và thực hiện quảng bá “Hành trình thưởng thức sầu riêng Việt Nam – 2019” trên đường phố Sydney bằng ô tô cổ, cùng với hình ảnh áo dài Việt Nam đã gây được hiệu ứng tốt không chỉ tại Australia. Từ hiệu quả của chương trình, năm 2020 Thương vụ phối hợp với Công ty Asean tổ chức Tuần lễ sầu riêng Việt Nam tại Australia đồng loạt tại 3 khu vực đông người gốc châu Á là Marrickville, Eastwood và Cabramatta. Lượng sầu riêng thực hiện chương trình xúc tiến đợt này là 7 tấn và nhận được phản hồi tốt từ khách hàng.

Theo các chuyên gia, điều quan trọng, một khi đã tạo dựng được thương hiệu, khẳng định được chất lượng, sự an toàn theo tiêu chuẩn của thị trường Australia nói riêng và thị trường nhập khẩu nói chung, sầu riêng Việt Nam cũng sẽ được nhiều thị trường đánh giá cao.

Tìm kiếm thị trường mới song song với xây dựng thương hiệu

Trong vòng 10 năm trở lại đây, diện tích trồng sầu riêng ở nước ta gia tăng nhanh chóng. Với diện tích 47.300ha, sản lượng 478.600 tấn/năm. Nếu như trước kia, sầu riêng được trồng chủ yếu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long và một vài nơi ở Đông Nam bộ, thì hiện nay, loại cây này đang có sự gia tăng diện tích mạnh mẽ tại Tây Nguyên – nơi vốn được xem là thủ phủ cây công nghiệp hơn là cây ăn trái. Mặc dù vậy, cây sầu riêng cũng tỏ ra thích nghi với vùng đất này khi sinh trưởng, cũng như cho năng suất và chất lượng tốt.

Trong tháng 12/2020, giá sầu riêng tại vùng chuyên canh tỉnh Tiền Giang tăng mạnh, cao gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước và đạt kỷ lục từ trước đến nay. Thương lái mua sầu riêng với giá từ 100.000 – 120.000 đồng/kg, tùy theo chất lượng quả và địa bàn gần xa. Nguyên nhân là do thời điểm này vùng chuyên canh sầu riêng đang vào vụ nghịch nhưng đa phần vườn sầu riêng bị ảnh hưởng đợt hạn hán và xâm nhập mặn trong mùa khô 2020 vừa qua nên chưa hồi phục, gây thiếu nguồn cung sầu riêng trên thị trường.

Điểm đến cho việc xuất ngoại của sầu riêng cũng không nhiều bởi đặc tính phân chia người dùng ra hay thái cực rạch ròi giữa thích và sợ. Do vậy, việc tìm kiếm thêm các thị trường mới và xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam để thúc đẩy tiêu thụ và nâng cao giá trị trên trường quốc tế là điều hết sức cần thiết.

Nguyễn Hạnh (Nguồn: Congthuong.vn)